TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2024/HS-ST Ngày 23-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy.
2. Ông Trần Sinh Tụ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 07 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Đình T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1971 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 03/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình V, đã chết; và bà Trần Thị G, sinh năm 1931; có vợ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; và 02 con; tiền án, tiền sự không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 18/2018/QĐ-TA ngày 17/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đình T thời gian 12 tháng; đã chấp hành xong ngày 047/12/2018.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Họ và tên: Lại Tiến Thức, sinh ngày 23 tháng 08 năm 1981 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: tổ D T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Tiến T2 (đã chết); và bà Chu Thị H, sinh năm 1955; có vợ Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1985 (đã Ly hôn); và 02 con; tiền án, tiền sự không.
Nhân thân: Bản án số 167/2012/HSST ngày 12/10/2012, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt Lại Tiến T3 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo chấp hành xong bản án ngày 05/9/2014;
Bị cáo bị bắt ngày 03/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Người chứng kiến: Anh Đỗ Văn Đ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tố công tác của Công an phường T, thành phố T phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T tuần tra trên tuyến đường Quốc lộ 3 thuộc phường T và phường T, thành phố T thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực uống thuốc Methadone thuộc tổ I, phường T, thành phố T có 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Nhận được tin báo, tổ công tác đã đến khu vực trên và yêu cầu kiểm tra đối với người đàn ông này. Quá trình kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Lê Đình T và tự giác khai nhận đang cất giấu ma túy trong người. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần trước bên trái T đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, theo T khai là ma túy Heroine của T (niêm phong kí hiệu A1); 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 mảnh viên nén màu hồng, theo T khai là ma túy Heroine và ma túy tổng hợp của Lại Tiến Thức, T3 nhờ T mua hộ (niêm phong kí hiệu A2). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong bì niêm phong A1 có khối lượng 0,167 gam (không phẩy một sáu bảy gam) và lấy mẫu gửi giám định kí hiệu T1; cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong bì niêm phong A2 có khối lượng 0,140 gam (không phẩy một bốn không gam), lấy mẫu vật gửi giám định kí hiệu T3; cân mảnh viên nén màu hồng trong bao bì niêm phong A2 có khối lượng 0,049 gam (không phẩy không bốn chín gam), lấy mẫu gửi giám định kí hiệu T4.
Tại bản Kết luận giám định số 505/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacety morphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,167 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu T3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,140 gam.
- Mẫu mảnh viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu T4 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,049 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lê Đình T khai nhận: Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, T đi từ nhà đến trung tâm U thuộc phường T, thành phố T để uống thuốc Methadone và tìm mua ma túy H1 sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp một người đàn ông tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) và nhờ P mua ma túy hộ T. T đưa cho P 130.000đ (một trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó 100.000đ (một trăm nghìn đồng) là tiền ma túy còn 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) là tiền công của P. Khi đó, Lại Tiến Thức đang đứng cạnh T nên T3 đưa cho T 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) để nhờ T mua hộ cho T3 01 gói ma túy Heroine và nửa viên ma túy hồng phiến. T đồng ý. Sau khi nhận được tiền của T3, T đưa số tiền 150.000đ cho P và nhờ P mua hộ ma túy Heroine và ma túy hồng phiến, P đồng ý. Sau khi P đi, T3 vào trong trung tâm M uống thuốc rồi đi về trước, còn T ở ngoài đợi P, khi nào mua được ma túy thì T mang ma túy đó về nhà cho T3. Khoảng 20 phút sau, P quay lại đưa cho T 02 gói ma túy Heroine đều được gói bằng giấy màu trắng và 01 gói ma túy hồng phiến được gói bằng giấy bạc màu trắng. Mua xong, T cất số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi vào trung tâm M để uống thuốc. Khi T vừa uống thuốc xong đi ra đến cổng trung tâm thì bị tổ công tác Công an thành phố T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, triệu tập Lại Tiến T3 để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T3 khai nhận hành vi đưa cho Lê Đình T số tiền 150.000đ và nhờ T mua hộ 01 gói ma túy Heroine và 01 mảnh viên ma túy hồng phiến. Khi T mua được ma túy thì T3 và T thống nhất T3 đi về nhà trước đợi T khi nào uống Methadone xong thì mang ma túy về nhà T3 đưa cho T3. Mục đích T3 mua ma túy là để sử dụng cho bản thân.
Vật chứng vụ án gồm: 03 bì niêm phong ký hiệu T1, T3, T4 bên trong chứa chất ma túy; 02 bì niêm phong ký hiệu T2, T5 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu. Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Cáo trạng số 179/CT-VKSTPTN ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Đình T và bị cáo Lại Tiến T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình T, Lại Tiến T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, điều 51; bị cáo Lại Tiến T3 áp dụng thêm khoản 2 điều 51; điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 24 đến 27 tháng tù; Lại Tiến Thức từ 21 đến 24 tháng tù. Phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo T xin được hưởng mức án thấp nhất do bị cáo đang bị ung thư dạ dày, bị cáo hiện phải điều trị thường xuyên, sức khỏe yếu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt của người chứng kiến, việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình T, Lại T4 thức khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở xác định:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tại khu vực tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an thành phố T, bắt quả tang Lê Đình T đang có hành vi tàng trữ 0,307gam heroin và 0,049gam Methaphetamine (tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,356gam). Trong đó, T mua 0,167gam heroine để sử dụng cho bản thân còn 0,140gam heroine và 0,049 gam Methaphetamine (tổng khối lượng 02 chất ma túy là 0,189gam) là do Lại Tiến Thức đưa tiền cho T nhờ T mua hộ ma túy để T3 sử dụng.
Hành vi của bị cáo Lê Đình T, Lại Tiến T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, H1, .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
i, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, bị cáo T3 đã bị xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo T đã bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính cai nghiện bắt buộc, các bị cáo là người có nhân thân xấu.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lại Tiến T3 có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến do đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt:
Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo T3 biết bị cáo T đi mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà gửi tiền nhờ mua hộ, bị cáo T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ là 0,189gam. Bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng ma túy đã mua cho T và mua cho T3 là 0,356gam.
Bị cáo Lê Đình T có tiền sử ung thư dạ dày, đã phẫu thuật cắt gần toàn bộ dạ dày, vét hạch và điều trị hóa chất, hạch di căn, sức khỏe yếu, hiện đang điều trị thường xuyên tại Bệnh viện K; Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện, không có việc làm ổn định, hiện đang tạm giam, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,157 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu; 01 bì niêm phong ký hiệu T3 bên trong chứa 0,130gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T4 bên trong chứa vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về điều luật áp dụng cũng như các vấn đề khác là phù hợp; về mức án đề nghị là cao so với hành vi của các bị cáo thực hiện.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, Lê Đình T khai mua của một người đàn ông tên P không rõ lai lịch, địa chỉ ngày 03/4/2024 tại khu vực Trung tâm M thuộc phường T, thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình T, Lại Tiến T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c, i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Đình T 21 (hai mươi mốt) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Áp dụng Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Cấm bị cáo Lê Đình T đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 23/7/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm c, i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lại Tiến T3 18 (mươi tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lại Tiến T3 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,157gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu; 01 bì niêm phong ký hiệu T3 bên trong chứa 0,130 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T4 bên trong chứa vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 212 ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Án phí: Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
- Quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Quang Huy – Trần Sinh Tụ | Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 193/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
