|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2024/HS-ST
Ngày: 22/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Phạm Văn Huynh.
- + Bà Lê Thị Ánh Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Đức Xuân Thương, Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2024/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HS ngày 16/8/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T
(tên gọi khác S), sinh năm 1995. Tại tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: tổ H, ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 3/12.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q: Việt Nam. Giới tính: Nam.
Con ông Nguyễn Minh H và bà Bùi Thị T1.
Gia đình có 03 chị, em. Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.
Vợ Nguyễn Thị Minh E (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 26/01/2010, bị Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 26/01/2012.
- Ngày 26/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 67/2013/HSST.
- Ngày 28/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 67/2013/HSST ngày 26/4/2013, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm tù. Bản án số 102/2013/HSST.
Bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023.
- Người làm chứng:
- + Cháu Nguyễn Khánh B, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2008.
- Người đại diện hợp pháp cho cháu B: Bà Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1979.
- Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Đinh Văn N, sinh năm 2002.
- Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- + Nguyễn Khánh D1, sinh năm 2000.
- Nơi cư trú: Đường D, khu T - B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(cháu B, bà D có mặt, anh D1 và anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh T là người nghiện ma túy và chung số như vợ chồng với Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2001. Nơi đăng ký thường trú: xã M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo T và chị L sống tại nhà của T ở ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng tháng 3/2023, T đến Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, 01 gói ma túy loại MDMB – 4en PINACA (C) với giá 300.000đồng, 01 gói loại MDMA và 02 viên ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000đồng. Sau khi mua xong, T mang về nhà để sử dụng. Vào khoảng 00 giờ ngày 25/7/2023, T rủ Nguyễn Khánh B đến nhà T để sử dụng ma túy, B đồng ý. Sau đó, T dẫn B vào phòng ngủ của T để sử dụng ma túy. Tại phòng ngủ của T có Nguyễn Thị Mỹ L đang nằm trên nệm bấm xem điện thoại, T lấy 01 ít ma túy loại MDMA bỏ vào bát rồi đổ nước ngọt loại C vào bát, T tiếp tục lấy đĩa sứ có sẵn ma túy loại Ketamine rồi dung thẻ nhựa ATM chia ma túy thành nhiều đường nhỏ để T và B cùng sử dụng. Sau đó, có người phụ nữ tên Nguyễn Thị Ngọc D2 (tên gọi khác M), sinh năm 1998, nơi cư trú Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Đinh Văn N đi đến nhà T. T đưa cho D2, N mỗi người nửa viên ma túy loại Ketamine để sử dụng, rồi tất cả cùng ngủ. Đến khoảng 10 giờ ngày 25/7/2023, Nguyễn Khánh D1 và Hoàng Thị Thanh  đi đến nhà T để đưa đồ ăn thì T và D1 phát hiện chị Nguyễn Thị Mỹ L đã tử vong và đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện L.
Vật chứng vụ án:
- - 01 gói nylon màu cam mặt trước có dòng chữ “BURBERRY – ESTABLISHD1856”, mặt sau có dòng chữ “MADEIN-AUSTRLIA”, bên trong gói nylon chứa thảo mộc khô (Ký hiệu M1).
- - 01 gói nylon màu cam, trên mặt gói có dòng chữ “CHALI” bên trong gói nylon chứa chất màu vàng (Ký hiệu M2).
- - 01 đĩa sứ màu trắng; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng; 01 thẻ nhựa ATM ngân hàng V; 01 đoạn ống giấy cuộn tròn có dòng chữ Saigon, tất cả đều bán dính tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3).
- - 01 chai nhựa, trên thân chai có dòng chữ “AQUAFINA” trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa chứa tinh thể màu vàng (Ký hiệu M4).
- - 01 đèn chiếu sao màu trắng; 01 đèn laze hình chữ nhật, màu đen, ký hiệu MP 7979.V10; 01 máy chiếu hình chữ nhật màu trắng, ký hiệu Z8Flys; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hột quẹt gas; 01 kéo bằng kim loại; 10 ống nhựa (loại ống hút nước); 05 đoạn ống hút nhựa dài 02cm và 10 túi nylon (dạng túi zip viền đỏ).
Tại Bản kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- - Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại MDMB -4en PINACA, khối lượng 0,4089gam.
- - Mẫu chất màu vàng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
- - Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3) bám dính trên 01 địa sứ màu trắng; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng; 01 thẻ nhựa cứng ATM ngân hàng V và 01 đoạn giấy cuộn tròn có dòng chữ Saigon được niêm phong gửi đến giám định đều là ma túy, loại Ketamine (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
- - Mẫu tinh thể màu vàng (Ký hiệu M4) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
Bản Cáo trạng số: 166/CT-VKS – P1 ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vẫn bảo lưu quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T tại bản Cáo trạng số: 166/CT-VKS – P1 ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đề nghị áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo:
Nguyễn Minh T mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
Xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu huỷ tổng số ma túy còn lại sau khi giám định đã được niêm phong (số 1605/KL – KTHS ngày 01/8/2023); 01 đèn chiếu sao màu trắng; 01 đèn laze hình chữ nhật, màu đen, ký hiệu MP 7979.V10; 01 máy chiếu hình chữ nhật màu trắng, ký hiệu Z8Flys; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hột quẹt gas; 01 kéo bằng kim loại; 10 ống nhựa (loại ống hút nước); 05 đoạn ống hút nhựa dài 02cm và 10 túi nylon (dạng túi zip viền đỏ).
Đề nghị tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng.
Đối với Nguyễn Thị Mỹ L tử vong tại nhà bị cáo Nguyễn Minh T:
Căn cứ vào kết luận giám định tử thi số 1646/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ và Văn bản số 239/PC09 ngày 22/7/2024, kết luận:
- Các kết quả chính: Bên ngoài bầm tím da khủy tay, xay sát bầm tím da vùng tay – chân, mép vết đã đóng vảy. Giải phẫu các tạng xuất huyết. Kết quả vi thể: Viêm cơ tim cấp, phù nề sung huyết, xuất huyết nặng ở phổi. Kết quả độc chất: Caffein (chất kích thích thần kinh trung ương yếu); Ketamine; MDMA (ma túy tổng hợp).
- Nguyên nhân tử vong: Sốc thuốc (sốc ma túy).
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định: Chưa làm việc được với Nguyễn Thị Ngọc D2 người liên quan trực tiếp (do đang chữa bệnh tâm thần tại Bệnh viện T2); Chỉ có lời khai của B là thấy khi về nhà T, L đang nằm sử dụng điện thoại di động, trong phòng đã mở nhạc, đĩa ma túy khay đã được để sẵn trong phòng nên không loại trừ L đã sử dụng ma túy trước đó và B thấy T đút ma túy cho L trong trường hợp đèn trong phòng đã tắt và thời điểm này B đã sử dụng ma túy và B dưới 16 tuổi nên việc chỉ sử dụng lời khai của B là không đảm bảo, trong khi T không thừa nhận là người đã đưa ma túy cho L sử dụng. Bên cạnh đó, đối với hàng vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy việc xác định các đối tượng có sử dụng ma túy, ngoài lời khai cần phải có kết quả test. Tuy nhiên, khi phát hiện sự việc Công an huyện L không tiến hành kết quả kiểm tra (test) ma túy đối với T, B, N, D2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ kết luận không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Minh T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy làm chết Nguyễn Thị Mỹ L.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc D2 (tên gọi khác là M) bị tâm thần hiện đang chữa Bệnh tại Bệnh viện T2 chưa làm việc được.
Đối với Nguyễn Khánh B, Đinh Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vi phạm hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông ở Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã bán ma túy cho T hiện chưa xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên. Theo các tài liệu, chứng cứ truy tố có tại hồ sơ vụ án thể hiện, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố và tại phiên tòa: bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Nguyễn Minh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định.
Khoảng tháng 3/2023, bị cáo T đến Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, 01 gói ma túy loại MDMB 4en PINACA (C) với giá 300.000đồng, 01 gói loại MDMA và 02 viên ma túy loại Ketamine với giá 3.000.000đồng. Vào khoảng 00 giờ ngày 25/7/2023, T rủ Nguyễn Khánh B, sinh ngày 05/9/2008 đến nhà T để sử dụng ma túy, B đồng ý. Sau đó, T dẫn B vào phòng ngủ của T để sử dụng ma túy. Tại phòng ngủ của T, lúc này có Nguyễn Thị Mỹ L đang nằm trên nệm bấm xem điện thoại, T lấy 01 ít ma túy loại MDMA bỏ vào bát rồi đổ nước ngọt loại C vào bát, T tiếp tục lấy đĩa sứ có sẵn ma túy loại Ketamine rồi dùng thẻ nhựa ATM chia ma túy thành nhiều đường nhỏ để T và B cùng sử dụng. Sau đó, có người phụ nữ tên Nguyễn Thị Ngọc D2 (tên gọi khác M), sinh năm 1998, nơi cư trú Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Đinh Văn N đi đến nhà T. T đưa cho D2, N mỗi người nửa viên ma túy loại Ketamine để sử dụng, rồi tất cả cùng ngủ. Đến khoảng 10 giờ ngày 25/7/2023, Nguyễn Khánh D1 và Hoàng Thị Thanh  đi đến nhà T để đưa đồ ăn thì T và D1 phát hiện chị Nguyễn Thị Mỹ L đã tử vong và đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện L.
Tại Bản kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- - Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại MDMB - 4en PINACA, khối lượng 0,4089gam.
- - Mẫu chất màu vàng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
- - Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3) bám dính trên 01 địa sứ màu trắng; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng; 01 thẻ nhựa cứng ATM ngân hàng V và 01 đoạn giấy cuộn tròn có dòng chữ Saigon được niêm phong gửi đến giám định đều là ma túy, loại Ketamine (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
- - Mẫu tinh thể màu vàng (Ký hiệu M4) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine (mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng).
Tại phiên toà, bị cáo T không thắc mắc gì đối với Bản kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Bị cáo T thừa nhận đã tổ chức cho B, D2 và N sử dụng trái phép chất ma túy. Không thừa nhận có đút ma túy cho L sử dụng, việc trước đó L có sử dụng ma túy hay không bị cáo không biết.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo T là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và làm lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy.
Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử ngày hôm nay là cần thiết nhằm mục đích răn đe, tuyên truyền về ý thức chấp hành pháp luật về phòng chống ma tuý của những người đã và đang thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng chưa bị phát hiện.
[3]. Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo Nguyễn Minh T quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét cần thiết phải xử phạt tù đối với bị cáo T, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răng đe và phòng ngừa tội phạm.
[4]. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu huỷ tổng số ma túy còn lại sau khi giám định đã được niêm phong (số 1605/KL – KTHS ngày 01/8/2023); 01 đèn chiếu sao màu trắng; 01 đèn laze hình chữ nhật, màu đen, ký hiệu MP 7979.V10; 01 máy chiếu hình chữ nhật màu trắng, ký hiệu Z8Flys; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hột quẹt gas; 01 kéo bằng kim loại; 10 ống nhựa (loại ống hút nước); 05 đoạn ống hút nhựa dài 02cm và 10 túi nylon (dạng túi zip viền đỏ).
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 31/7/2024).
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng (mười nghìn đồng). Theo giấy nộp tiền mặt ngày 21/8/2024 vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
[5]. Đối với việc Nguyễn Thị Mỹ L tử vong tại nhà của bị cáo Nguyễn Minh T thuê tại ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 25/7/2023.
Căn cứ vào kết luận giám định tử thi số 1646/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ và Văn bản số 239/PC09 ngày 22/7/2024, kết luận:
- Các kết quả chính: Bên ngoài bầm tím da khủy tay, xay sát bầm tím da vùng tay – chân, mép vết đã đóng vảy. Giải phẫu các tạng xuất huyết. Kết quả vi thể: Viêm cơ tim cấp, phù nề sung huyết, xuất huyết nặng ở phổi. Kết quả độc chất: Caffein (chất kích thích thần kinh trung ương yếu); Ketamine; MDMA (ma túy tổng hợp).
- Nguyên nhân tử vong: Sốc thuốc (sốc ma túy).
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định: Chưa làm việc được với Nguyễn Thị Ngọc D2 (tên gọi khác là M) người liên quan trực tiếp đến vụ án (do đang chữa bệnh tâm thần tại Bệnh viện T2). Chỉ có lời khai của B là thấy khi về đến nhà T, L đang nằm sử dụng điện thoại di động, trong phòng đã mở nhạc, đĩa ma túy khay đã được để sẵn trong phòng nên không loại trừ L đã sử dụng ma túy trước đó và B thấy T đút ma túy cho L trong trường hợp đèn trong phòng đã tắt và thời điểm này B đã sử dụng ma túy và B dưới 16 tuổi nên việc chỉ sử dụng lời khai duy nhất của B là không đảm bảo vững chắc về chứng cứ chứng minh, các lời khai của T và qua đối chất với B, T không thừa nhận là đã đưa ma túy cho L sử dụng. Ngoài lời khai duy nhất của B, không còn chứng cứ gì khác để chứng minh T có hành vi đưa ma túy cho L sử dụng. Bên cạnh đó, đối với hàng vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy việc xác định các đối tượng có sử dụng ma túy, ngoài lời khai cần phải có kết quả test, Tuy nhiên, khi phát hiện sự việc Công an huyện L không tiến hành kết quả kiểm tra (test) ma túy đối với T, B, N, D2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Minh T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy làm chết Nguyễn Thị Mỹ L là đúng theo quy định pháp luật.
[6]. Trong vụ án còn có Nguyễn Thị Ngọc D2 (M) bị tâm thần hiện đang chữa Bệnh tại Bệnh viện T2 chưa làm việc được.
[7]. Đối với Nguyễn Khánh B, Đinh Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vi phạm hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.
[8]. Đối với người đàn ông ở Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, người đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện chưa xác định tên, tuổi địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.
[9]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý'.
Xử phạt: Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Trung tính từ ngày 25/7/2023.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 1605/KL – KTHS ngày 01/8/2023: Số ma túy còn lại sau khi giám định; 01 đèn chiếu sao màu trắng; 01 đèn laze hình chữ nhật, màu đen, ký hiệu MP 7979.V10; 01 máy chiếu hình chữ nhật màu trắng, ký hiệu Z8Flys; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hột quẹt gas; 01 kéo bằng kim loại; 10 ống nhựa (loại ống hút nước); 05 đoạn ống hút nhựa dài 02cm và 10 túi nylon (dạng túi zip viền đỏ).
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đồng (mười nghìn).
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - VKSND.H Long Thành (1). - Công an H Long Thành (2). - VKS tỉnh Đồng Nai (1). - Công an tỉnh Đồng Nai (1). - Cơ quan CSĐT.CA H Long Thành (1). - THA (1). - Bị cáo (1). - Lưu hồ sơ (1). |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hùng Minh Sang |
Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 193/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
