Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 193/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/07/2024

“V/v Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thiên Hùng

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXX-ST ngày 21/05/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21/6/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 260 ngày 22/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Bị đơn: Chị Đào Thị T1, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Phố B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Hiện lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 2014 anh Nguyễn Văn T có quan hệ tình cảm với chị Đào Thị T1, sinh năm 1993, địa chỉ: Phố B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến năm 2016, anh T và chị T1 có một con chung là cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016. Do anh T và chị T1 không đăng ký kết hôn nên khi khai sinh cho con đã để trống phần tên cha và lấy con theo họ mẹ. Sau khi chị T1 sinh cháu Hoàng A thì chị T1 và cháu Hoàng A ở cùng anh T tại địa chỉ thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương. Năm 2019, anh T và chị T1 ly thân, chị T1 về Bắc Giang sinh sống còn cháu Hoàng A do anh chăm sóc và nuôi dưỡng. Đến ngày 29/4/2022, chị T1 có đón cháu Hoàng A đi chơi mấy ngày lễ nhưng không đưa cháu về. Chị T1 và gia đình chị T1 từ chối và cản trở không cho anh gặp con.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 92/2022/HNGĐ-ST ngày 29/09/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử và xác định cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016 là con đẻ của anh Nguyễn Văn T và chị Đào Thị T1. Sau khi Tòa án xét xử anh có đến thăm con nhiều lần nhưng gia đình chị T1 ngăn cản không cho anh gặp con. Hiện nay chị T1 đang đi lao động nước ngoài, không đảm bảo việc chăm sóc con chung của anh và chị T1 nên ngày 16/7/2023 anh đã đón cháu Đào Nguyễn Hoàng A về nhà anh để chăm sóc. Cháu Hoàng A hiện đang học lớp 2D trường Tiểu học xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương và có nguyện vọng được sống cùng anh T.

Anh Nguyễn Văn T xác định anh có đủ điều kiện để nuôi con chung, có nơi ở ổn định, hiện đang làm việc tại Công ty Cổ phần Đ với chức vụ: Trưởng phòng kỹ thuật thi công và máy xây dựng, thu nhập bình quân của anh là 20.000.000đồng/tháng

Do vậy, để đảm bảo cho con chung có điều kiện phát triển tốt, không ảnh hưởng đến việc học tập của cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu Đào Nguyễn Hoàng A, anh T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giao cháu Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016 cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Chị Đào Thị T1 là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc với ông Đào Viết T2 là bố đẻ chị Đào Thị T1, ông T2 cho biết: Chị T1 hiện đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, địa chỉ nơi ở cụ thể của chị T1 ở đâu thì ông không nắm được và không cung cấp được cho Tòa án. Chị T1 vẫn liên lạc được với ông và gia đình qua mạng xã hội. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/6/2016 thì chị T1 không đồng ý vì anh T đã có vợ khác và có 02 con riêng. Hiện nay ông xác định ông vẫn còn khỏe, vẫn có thể chăm sóc cháu Hoàng A trong thời gian chị T1 đi lao động tại nước ngoài.

Tại biên bản làm việc đề ngày 12/01/2024, cháu Đào Nguyễn Hoàng A trình bày: Cháu là con bố Nguyễn Văn T và mẹ Đào Thị T1. Hiện nay, cháu đang sinh sống cùng với bố ở Hải Dương. Cháu đang học lớp 2D Trường tiểu học xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương. Cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Mẹ cháu là Đào Thị T1 hiện nay đang đi nước ngoài, cháu có nguyện vọng được ở cùng bố T.

* Tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Văn T vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T1 vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84, khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Giao con chung là cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đào Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: anh Nguyễn Văn T khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với chị Đào Thị T1. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo khoản 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo Công văn trả lời số 5703/QLXNC-P3 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 22/3/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị Đào Thị T1 xuất cảnh gần nhất ngày 05/8/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định chị T1 hiện nay đang ở nước ngoài. Mặt khác, chị T1 là bị đơn hiện có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự:

[3.1] Về sự vắng mặt của nguyên đơn: có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ biên bản xác minh tại Công an xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị T1 trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị T1 thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị T1 biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T và bị đơn là chị Đào Thị T1. Gia đình cho biết chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị T1 không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị T1 tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Anh T và chị T1 có quan hệ tình cảm và chung sống cùng nhau từ năm 2014 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống cùng nhau, chị T1 có sinh cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016. Tại bản án hôn nhân gia đình số 92/2022/HNGĐ-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử và xác định cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/6/2016 là con đẻ của anh T và chị T1.

Xét thấy: Chị T1 hiện nay đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại địa phương nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho cháu Hoàng A sẽ gặp nhiều hạn chế. Mặc dù, chị T1 vẫn nhờ ông Đào Viết T2 (là bố đẻ chị T1) thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng A nhưng hiện nay ông T2 tuổi đã cao (ông T2 56 tuổi), sức khỏe kém, hay phải đi bệnh viện điều trị bệnh nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng A bị hạn chế.

Anh T hiện đang sinh sống cùng con chung, đang làm việc tại địa phương, có thu nhập trung bình 33.000.000 đồng/01 tháng, có chỗ ở ổn định. Cháu Hoàng A đang học tập ổn định tại trường Tiểu học L, huyện B, tỉnh Hải Dương và có nguyện vọng được ở cùng anh T.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy anh Nguyễn Văn T có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng A tốt hơn chị T1. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu Hoàng A, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Giao cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016 cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Đào Thị T1 là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về án phí: Chị Đào Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Nguyễn Văn T được hoàn trả 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000993 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo:

[6.1] Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

[6.2] Chị Đào Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Giao cháu Đào Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 07/06/2016 cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Đào Thị T1 là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Chị Đào Thị T1 phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn T được hoàn trả số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000993 ngày 12/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo bản án:

Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Đào Thị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con

  • Số bản án: 193/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh Nguyễn Văn T, chị Đào Thị T1 thay đổi người nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger