Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2025/HS-PT

Ngày 27 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu

Ông Lê Thành Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1010/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1237/2024/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo.

Họ và tên: TRẦN VĂN T (Tên gọi khác: Tý B), sinh năm 1994, tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 06, thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần B, sinh năm 1971 và bà Lê Thị B1, sinh năm 1974; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:

  • + Ngày 02/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh ra Quyết định số 28/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Bình Thuận. Ngày 21/12/2021, Trần Văn T chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • + Ngày 17/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 42/2010/HSST. T đã chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án vào ngày 25/02/2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024, chuyển tạm giam ngày 17/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thanh Bảo D – Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T (sinh ngày 08/11/1994, hộ khẩu thường trú: thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) là người sử dụng ma túy. Qua quan hệ quen biết ngoài xã hội, T biết được một người tên T1 (ở Thành phố Hồ Chí Minh) bán ma tuý và liên lạc thỏa thuận bán cho T 03 (ba) lạng ma túy đá với giá 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) nhằm mục đích để sử dụng. Sáng ngày 07/01/2024, T1 mang ma túy ra giao cho T theo thỏa thuận tại một khu vườn cao su thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi nhận được ma túy, T mở ra kiểm tra thì thấy T1 giao cho T 03 (ba) lạng ma túy được gói trong 03 (ba) gói nylon có khóa nhíp kéo một đầu màu trắng, có kích thước (8cm x 12cm) giống nhau.

Chiều ngày 07/01/2024, Trần Văn T liên lạc với một người bạn tên T2 (không rõ nhân thân) và được T2 rủ T đến huyện H thì T đồng ý. Sau đó, T điện thoại cho anh Lê Hoàng H (sinh ngày 10/09/1994, hộ khẩu thường trú: Tổ H, thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) là lái xe ô tô dịch vụ, thuê H chở T đi H thì H đồng ý. T rủ thêm Trần Tấn T3 (sinh ngày 12/12/1987, hộ khẩu thường trú: thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) là bạn bè hàng xóm với T đi cùng thì T3 đồng ý. Khoảng gần 19 giờ ngày 07/01/2024, H điều khiển xe ô tô biển số 86A - 145.81 đến đón T tại thị trấn Đ, huyện Đ sau đó chở T về nhà T ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Về đến nhà, T nấu nước sôi đổ vào thùng nhựa giữ nhiệt để mang theo và cất giấu trong người 03 gói ma túy đã mua trước đem ra xe của H. Khi lên xe, T ngồi tại vị trí phía sau ghế phụ và để thùng nhựa phía dưới chân, còn 03 gói ma túy T cất giấu trong túi yếm phía sau ghế phụ. T nói H lái xe đến nhà T3 ở Đ để đón T3 đi cùng. Khi lên xe, T3 ngồi bên cạnh T tại vị trí sau ghế tài xế. Trên đường đi, T liên hệ với một người bạn ngoài xã hội tên “Bốp” (không rõ nhân thân) để hỏi mượn “Bốp” một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế mang theo với mục đích sử dụng ma túy đá khi có nhu cầu. Khi xe di chuyển trên đường DT766 thuộc xã Đ thì T nói H dừng xe để T gặp “Bốp” và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý mang theo.

Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe ô tô đi về hướng huyện H. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi xe đến đường bê tông không có tên, thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra. T sợ bị lực lượng Công an phát hiện đang mang theo ma túy nên đã lấy số ma túy xé lớp nylon bỏ vào thùng nhựa đựng nước sôi với mục đích phi tang nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • 01 (một) thùng nhựa màu đỏ hình hộp chữ nhật, có kích thước (19 x 20 x 27) cm, có nắp đậy màu đỏ, in dòng chữ “HIỆP THÀNH”, bên trong chứa chất lỏng, thu giữ trên sàn xe ô tô, tại vị trí dưới chân Tình đang ngồi (M1);
  • 01 (một) túi nylon có khóa nhíp kéo một đầu màu đỏ, bị xé rách không rõ hình dạng, bên trong còn chứa chất dạng tinh thể, có kích thước (08 x 4,5) cm, thu giữ trên sàn xe ô tô, cạnh thùng nhựa màu đỏ (M2);
  • 01 (một) gói nylon có khóa nhíp kéo một đầu màu trắng, có kích thước (08 x 12) cm, bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng, thu giữ trong ngăn chứa đồ phía sau ghế của bên phải lái xe trước mặt T đang ngồi (M3);
  • 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm chai nhựa dài 22cm, có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống nỏ thủy tinh có 01 đầu uốn cong và 01 đầu hút nhựa màu xanh;
  • 01 (một) điện thoại di động màu tím, hiệu Samsung loại A14, thu giữ của Trần Văn T;
  • 01 (một) điện thoại di động màu trắng, hiệu S loại A20, bên trong có chứa sim số 036.776.3xxx, thu giữ của Trần Tấn T3;
  • 01 (một) điện thoại di động màu trắng, hiệu iPhone 14, bên trong có chứa sim số 096.487.1xxx, thu giữ của Lê Hoàng H;
  • 01 (một) xe ô tô biển số 86A-145.81, hiệu Toyota Fortuner kèm theo giấy đăng ký xe và đăng kiểm xe thu giữ của Lê Hoàng H.

Tại Bản kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Trần Văn T:

  • Mẫu M1 gửi giám định có thể tích 1795 mililit, chứa Methamphetamine, khối lượng 80,77 gam.
  • Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 32,6425 gam; là Methamphetamine.
  • Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 78,1145 gam; là Methamphetamine.

Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Trần Văn T là: 191,527 gam Methamphetamine.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60 /2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định.

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 4 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 08/01/2024.

Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong hạn luật định bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo.

Luật sư bà chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định, như sau:

[1] Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 07/01/2024, tại đường bê tông không có tên thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 191,527 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì Công an huyện H phối hợp với Công an thị trấn T, huyện H kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Với hành vi của bị cáo Trần Văn T, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét đơn kháng cáo của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời xem xét đánh giá về nhân thân của bị cáo để áp dụng xử phạt bị cáo 17 năm tù là thỏa đáng. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới; Do vậy đơn kháng cáo của bị cáo không có căn cứ được chấp nhận.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 4 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 08/01/2024.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. Nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Thuận ; (5)
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Công an tỉnh Bình Thuận ; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (1)
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận ;. (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Lưu VT (5), HS (2) (Án-Anh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)

  • Số bản án: 193/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có kháng cáo. Họ và tên: TRẦN VĂN T Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. 1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 4 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. 2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 08/01/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger