|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 193/2025/DS-PT Ngày 18 tháng 3 năm 2025 V/v tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Ông Hà Huy Cầu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 638/2024 /TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03 /2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau kháng nghị và kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3221/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Lâm Phi C, sinh năm 1950.
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan T, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: H T, phường T, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Ông Lâm Văn H, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Khoa N và TRần Thị Minh N1 (có mặt).
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Huỳnh Thị Thu E, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
-
Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh C.
Địa chỉ: Đường T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Hồ Trọng H1, chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C (xin vắng mặt).
-
Phòng C2 tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Số 1, đường T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
-
Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1979.
Địa chỉ cư trú: Khu Đô Thị B, ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Văn H2, sinh năm 1985 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
-
Bà Huỳnh Thị Thu E, sinh năm 1967 (có mặt)
Người kháng cáo: Ông Lâm Phi C, Bà Huỳnh Thị Thu E, ông Lâm Văn H, đều có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau.
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, ông Trần Chí T1 trình bày: Cha ông Lâm Phi C là cụ Lâm Thành V (liệt sĩ, hy sinh năm 1954), mẹ là cụ Lê Thị G (Lê G), sinh năm 1923 (chết năm 2016) chung sống với nhau có 01 người con là ông Lâm Phi C. Sau khi cụ V hy sinh thì cụ G tái giá với cụ Huỳnh Văn C1, cụ G và cụ C1 sống với nhau không có con nên xin người con nuôi đặt tên là Lâm Văn H vào năm 1971. Đến năm 1973 cụ Huỳnh Văn C1 chết nên gia đình ông C chỉ còn cụ G, ông C và ông H.
Trước năm 1975, cụ G có mua phần đất tại ấp T, xã L, thị xã C, tỉnh Minh Hải. Đến năm 1990, UBND thị xã C, tỉnh Minh Hải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A045174 ngày 12/03/1990 do cụ Lê Thị G đứng tên với tổng diện tích 23.550m2 (trong đó đất ở 500m2, đất vườn 5500m2; đất trồng lúa 17.550m2) tại thửa đất số 255, 256, tờ bản đồ số 06. Trên đất cụ Lê Thị G có một căn nhà lá chiều ngang 6m x chiều dài 5,5m, diện tích 33m2. Năm 1992, ông C và cụ G được bảo lãnh qua nước ngoài sinh sống. Trước khi đi, cụ G có lập giấy ủy quyền giao cho ông H căn nhà của cụ G xây để ở và giao cho ông H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tạm thời quản lý toàn bộ phần đất do cụ G đứng tên.
Ngày 24/03/2004, tại Phòng C3 tỉnh Cà Mau cụ Lê Thị G có lập bản di chúc cho ông Lâm Phi C được hưởng toàn bộ phần diện tích đất 23.550m2 với điều kiện khi ông C về Việt Nam định cư hoặc đầu tư thì ông Lâm Văn H có trách nhiệm bàn giao toàn bộ phần đất trên lại cho ông C. Sau đó, do ông H cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ G để vay tiền không có khả năng chi trả nên ông C và cụ G có bán một phần đất trồng lúa diện tích 6.480m2 cho ông Chu Hồng H3 vào ngày 30/03/2004 để trả nợ cho ông H. Phần diện tích đất còn lại là 17.070m2.
Ngày 18/08/2016, cụ G qua đời, đến ngày 05/02/2018 ông C được cấp trích lục bổ sung hộ tịch quốc tịch Australia - Việt Nam; Ngày 08/02/2018 ông C được thường trú vào hộ khẩu của ông Lâm Đức M tại ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau và được Công an tỉnh C cấp giấy chứng minh nhân dân nên di chúc của cụ G có hiệu lực và thõa mãn điều kiện của di chúc. Sau đó, ông C đã yêu cầu ông Lâm Văn H và vợ là bà Huỳnh Thị Thu E giao phần đất còn lại với diện tích 17.070m2 theo di chúc của cụ G nhưng ông H và bà E không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông H đã nộp cho Tòa án di chúc của cụ G năm 1992.
Nay ông Lâm Phi C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản theo di chúc năm 2004 của cụ G. Trường hợp xét di chúc năm 2004 không có hiệu lực thì yêu cầu chia di sản của cụ G theo di chúc năm 1992. Buộc ông Lâm Văn H,bà Huỳnh Thị Thu E giao lại cho ông phần đất diện tích 23.550m2 đã nêu trong di chúc lập ngày 24/3/2004, trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông Chu Hồng H3 diện tích 6.480m2 và phần diện tích đất ông C tự nguyện cho lại cho ông H là 3.770m2. Phần đất còn lại ông C yêu cầu ông H, bà E phải giao trả có diện tích là 14.259,5m2 (Theo trích đo hiện trạng ngày 23/8/2019).
Đối với phần đất có diện tích 3.770m2, ông C để lại cho ông Lâm Văn H do có công bảo quản, gìn giữ tài sản được xác định như sau: Diện tích đất ở tại nông thôn (ONT), đất trồng cây lâu năm (CLN) có diện tích 705m2 (chiều ngang 10m, chiều dài 70.50m), trên phần đất này có hai căn nhà hiện hữu và phần đất trồng lúa nước (LUC) nằm liền kề với phần đất vườn có diện tích 3.065m2 (chiều ngang 69.66m, chiều dài 44m).
Ông Lâm Văn H trình bày: Cha ông tên Huỳnh Văn C1, sinh năm 1923 (chết năm 1973), mẹ ông là cụ Lê Thị G (Lê G), sinh năm 1923 (chết năm 2016). Lúc sinh thời cha mẹ ông có tạo lập được phần đất tổng diện tích 23.550m2, ngày 12/03/1990 do UBND thị xã C, tỉnh Minh Hải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A045174, tại thửa đất số 255, 256, tờ bản đồ số 06, do mẹ ông là cụ Lê Thị G đứng tên giấy chứng nhận. Năm 1992, mẹ ông sang nước Úc định cư có giao cho ông quản lý và canh tác toàn bộ phần đất này. Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông và vợ ông bà Huỳnh Thị Thu E phải có trách nhiệm giao lại cho ông C phần đất có diện tích 23.550m2 đã nêu trong di chúc lập ngày 24/3/2004, trừ phần đất đã chuyển nhượng cho ông Chu Hồng H3 có diện tích 6.480m2 và phần đất ông C đồng ý để lại cho ông diện tích 3.770m2. Phần đất còn lại ông C yêu cầu ông và bà E phải giao trả có diện tích là 14.259,5m2 ông không đồng ý vì bà G không có về Việt Nam vào thời điểm năm 2004 nên không thể có mặt tại Phòng C3 tỉnh Cà Mau ngày 24/03/2004 để làm di chúc. Vì vậy, ông yêu cầu huỷ di chúc năm 2004 của cụ G. Đối với di chúc năm 1992, ông không biết ai lập và lập thời gian nào nhưng khi thấy ở nhà nên ông giao nộp cho Tòa án. Nay ông phản tố, yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc năm 2004 của bà G vô hiệu. Yêu cầu hủy ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh C cấp cho Lâm Phi C. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâm Phi C với bà Nguyễn Thị B. Yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ G theo pháp luật đối với phần đất còn lại diện tích 17.684,5m2 (đã trừ phần đất chuyển nhượng 6.480m2, phần ngôi mộ 350m2).
Tại phiên tòa, ông thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Không yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C và bà B. Đồng thời, Yêu cầu để lại cho ông 1.296m2 dùng vào việc thờ cúng, phần còn lại chia đôi cho ông và ông Lâm Phi C. Ông đồng ý giao cho ông C phần đất giáp với kinh T3, không đồng ý giao phần mặt tiền giáp lộ bê tông cho ông C.
Bà Huỳnh Thị Thu E trình bày: Bà thống nhất ý kiến trình bày của ông Lâm Văn H. Ngoài ra, bà yêu cầu khi chia đất phải tính công sức giữ gìn, cải tạo đất và trồng cây của vợ chồng bà. Ông C phải trả cho vợ chồng bà số tiền 100.000.000 đồng.
Ông Tạ Văn H2 trình bày: Vào năm 2021, bà B có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 2.443,2m2 của ông Lâm Phi C. Đến ngày 21 tháng 6 năm 2021 bà B được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà B đã nhận đất và quản lý, sử dụng đất từ khi chuyển nhượng. Nay ông H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với ông C bà B không đồng ý. Yêu cầu Tòa án giữ việc chuyển nhượng giữa ông C với bà B vì việc chuyển nhượng là hợp pháp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03 /2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định.
Căn cứ các Điều 26, 37, 38, 147, 157, 158, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 649, 650, 651 Bộ luật dân sự .
Căn cứ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế theo di chúc của bà Lê Thị G lập ngày 24/03/2004 và ngày 27/6/1992.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc :
- - Tuyên bố di chúc của bà Lê Thị G lập ngày 24/03/2004 và di chúc ngày 27/6/1992 là vô hiệu.
-
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là phần đất và tài sản gắn liền với đất của bà Lê Thị G thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp cho bà Lê Thị G đứng tên ngày 12/03/1990, cụ thể như sau:
- + Buộc ông Lâm Văn H, bà Huỳnh Thị Thu E giao cho ông Lâm Phi C phần đất có diện tích 6.230m2 tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí: M1M1' dài 22,12m ; M2M2’dài 22,12m; M1M2 dài 281,55m; M2’Ml᾽ dài 283,45m.
-
+ Ông Lâm Văn H được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Bao gồm:
Phần thứ nhất: Diện tích 2.517,1m2 (có cả phần đất khu mộ, lối vào khu mộ và phần nhà ông H đã chuyển nhượng ) có vị trí: M2M3 dài 71,95m; M3M5 dài 38m; M5M8 dài 72,18m ; M8M2 dài 31,92m.
Phần thứ hai: Diện tích 6.319m2, có vị trí: Ml’M12 dài 13,07m; M12M13 dài 216m; M13M10 dài 30m; M10M7 dài 70,87m; M7M2᾽ dài 37m; M2’Ml᾿ dài 283,45m.
(Theo sơ đồ vị trí ngày 21/5/2024 của Trung tâm kỹ thuật công nghệ quan trắc, tài nguyên và môi trường tỉnh C).
- - Huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CV 991994, CV 991996 ngày 08 tháng 7 năm 2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp cho ông Lâm Phi C.
Bản án còn quyết định về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm trong hạn luật định các ông bà Lâm Phi C, Lâm Văn H và Huỳnh Thị Thu E có đơn kháng cáo đề nghị toà án phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn kháng cáo đề nghị chấp nhận di chúc là hợp pháp.
Bị đơn kháng cáo đề nghị xem xét công sức và yêu cầu thanh toán trị giá của tài sản trên đất mà nguyên đơn được chia.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau có quyết định kháng nghị số 03 / QĐKNPT - VKS -DS, với nội dung đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận di chúc là hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án, Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị. Ông Lâm Văn H và bà Huỳnh Thị Thu E rút kháng cáo.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận phần kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa một phần Bản án sơ thẩm. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đói với đơn kháng cáo của ông H bà E.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Tố tụng: tại phiên toà ông H bà E rút đơn kháng cáo do vậy; Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của ông H bà E.
[1] Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của bà Lê Thị G lập năm 2004 đối với di sản là phần đất diện tích 23.550m2 thuộc thửa số 255, 256, tờ bản đồ số 06 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp cho bà Lê Thị G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12 tháng 3 năm 1990. Năm 2004, bà G đã chuyển nhượng một phần với diện tích 6.480m2 cho ông Chu Hồng H3. Diện tích còn lại là 17.070m2 nhưng đo đạc thực tế còn lại diện tích 17.546,8m2 (theo trích đo hiện trạng ngày 08/12/2023 của Trung tâm K) nếu không áp dụng di chúc năm 2004 thì yêu cầu áp dụng di chúc năm1992 để chia thừa kế. Bị đơn không đồng ý và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà G.
Các bên đương sự đều thống nhất về diện và hàng thừa kế, cũng như xác định di sản thừa kế của cụ Lê Thị G để lại là 17.070m2 đất, nhưng đo đạc thực tế còn lại diện tích 17.546,8m2 (theo trích đo hiện trạng ngày 08/12/2023 của Trung tâm K).
[2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát xét thấy:
Di chúc của cụ Lê Thị G ký ngày 24/03/2004 tại Phòng C3 tỉnh Cà Mau. Hình thức di chúc được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, khi thực hiện di chúc ông C và cụ G đang cư trú ở nước Úc. Việc công chứng di chúc của cụ G không thể hiện rõ địa chỉ của cụ G ở nước ngoài, không sử dụng giấy tờ tùy thân hợp pháp hiện tại của cụ G mà lại sử dụng giấy chứng minh nhân dân được cấp ngày 19/10/1981, đến thời điểm công chứng di chúc thì chứng minh nhân dân trên đã hết hạn. Di chúc ngày 24/3/2004, có chứng nhận của công chứng viên, có số công chứng là 04 nhưng không thể hiện vào quyển số mấy.
Bên cạnh đó, Cục Q trả lời tại công văn số: 4857/QLXNC – P3 ngày 11/3/2024 thì từ ngày 01/01/2003 đến ngày 31/12/2004 bà Lê Thị G, sinh năm 1923 không có thông tin cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh tại Cục Q. Tại công văn số: 58/PA01 – XNC, ngày 05/02/2021 của phòng an ninh đối ngoại, công an tỉnh C cũng xác nhận không có thông tin xuất cảnh, nhập cảnh của đương sự Lê Thị G, sinh năm 1923.
Ngoài ra người nhận chuyển nhượng đất của cụ G năm 2004 là Võ Thị V1 xác định vợ chồng bà có mua một phần đất của ông C, ông H. Nhưng phần đất đứng tên của cụ G nên toàn bộ giao dịch, giấy tờ do ông C làm sẵn và đưa cho em bà là ông Chu Hồng H3 ký, bà không biết bà G là ai, cũng không có gặp bà G.
Như vậy, không có căn cứ xác định cụ G có về Việt Nam để lập di chúc năm 2004 nên không có căn cứ để xác định di chúc trên là hợp pháp theo yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với di chúc năm 1992, các đương sự xác định không còn lưu giữ bản gốc, nguyên đơn có yêu cầu Toà án thu thập tại phòng C3. Bản di chúc ký ngày 27/6/1992, được lưu giữ tại phòng C3, di chúc thể hiện nội dung cụ G là giao cho ông C được thừa hưởng, căn nhà, 03 công đất vườn, 13 công ruộng với điều kiện: “..Lâm Phi C phải cho phần ruộng để Lâm Văn H sinh sống, phần ruộng bao nhiêu công cho hợp tình hợp lý là do Lâm Phi C định đoạt, sao cho thuận thảo giữa anh em ...” di chúc trên có xác nhận của công chứng viên Lê Văn T2 cùng ngày 27/6/1992. Sau khi lập di chúc thì 10 ngày sau cụ G lại lập giấy Uỷ quyền ngày 03/7/1992, giấy Uỷ quyền có xác nhận của công chứng viên Lê Văn T2. Nội dung uỷ quyền là giao toàn bộ nhà đất cho ông H quản lý giữ gìn. Tại phần II về thời hạn Uỷ quyền: “nếu khi nào cần, nếu có già yếu thì tôi sẽ di chúc lại cho Lâm Phi C...” như vậy tại giấy uỷ quyền có sau di chúc lại xác định cụ G chưa lập di chúc và khi nào cần thì sẽ di chúc lại. Như vậy, có căn cứ để khẳng định cụ G có ý định huỷ bỏ tờ di chúc năm 1992 như việc thể hiện tại giấy uỷ quyền. Mặt khác, di chúc năm 1992 lại không thể hiện cụ thể rõ ràng phần đất chia cho ông H là bao nhiêu để anh em thuận thảo.
Từ nhận định nêu trên thấy rằng: Những mâu thuẫn của di chúc và nội dung của giấy uỷ quyền, nội dung của di chúc không cụ thể để xác định phần được chia của ông C và ông H nên việc ông C yêu cầu áp dụng di chúc năm 1992 để chia phần đất cho ông. Nhưng trong di chúc lại không thể hiện ông C được nhận phần đất bao nhiêu, ông H được nhận phần đất bao nhiêu để anh em thuận thảo, nên không thể căn cứ vào di chúc năm 1992 để chia phần đất theo yêu cầu của ông C. Bản án sơ thẩm xem xét đánh giá chứng cứ để áp dụng đúng quy định của pháp luật về thừa kế để không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu chia di sản theo các di chúc là có căn cứ đúng pháp luật; Do vây đơn kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát không có căn cứ được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do ông C là người cao tuổi, thân nhân liệt sĩ có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 248, khoản 3 Điều 284 BLTT dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lâm Phi C và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của ông Lâm Văn H và Huỳnh Thị Thu E. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03 /2024/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Căn cứ các Điều 26, 37, 38, 147, 157, 158, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 649, 650, 651 Bộ luật dân sự .
Căn cứ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế theo di chúc của bà Lê Thị G lập ngày 24/03/2004 và ngày 27/6/1992.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc :
- - Tuyên bố di chúc của bà Lê Thị G lập ngày 24/03/2004 và di chúc ngày 27/6/1992 là vô hiệu.
-
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là phần đất và tài sản gắn liền với đất của bà Lê Thị G thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp cho bà Lê Thị G đứng tên ngày 12/03/1990, cụ thể như sau:
- + Buộc ông Lâm Văn H, bà Huỳnh Thị Thu E giao cho ông Lâm Phi C phần đất có diện tích 6.230m2 tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí: M1M1' dài 22,12m ; M2M2' dài 22,12m; M1M2 dài 281,55m; M2’M1' dài 283,45m.
-
+ Ông Lâm Văn H được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Bao gồm:
Phần thứ nhất: Diện tích 2.517,1m2 (có cả phần đất khu mộ, lối vào khu mộ và phần nhà ông H đã chuyển nhượng ) có vị trí: M2M3 dài 71,95m; M3M5 dài 38m; M5M8 dài 72,18m ; M8M2 dài 31,92m.
Phần thứ hai: Diện tích 6.319m2, có vị trí: M1’M12 dài 13,07m; M12M13 dài 216m; M13M10 dài 30m; M10M7 dài 70,87m; M7M2' dài 37m; M2'M1' dài 283,45m.
(Theo sơ đồ vị trí ngày 21/5/2024 của Trung tâm kỹ thuật công nghệ quan trắc, tài nguyên và môi trường tỉnh C).
- - Huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CV 991994, CV 991996 ngày 08 tháng 7 năm 2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp cho ông Lâm Phi C.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Lâm Phi C.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Xuân Thành |
Bản án số 193/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 193/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Ông Lâm Phi C, sinh năm 1950. 2. Bị đơn: Ông Lâm Văn H, sinh năm 1971.
