|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 193/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/12/2024 Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con và chia nợ chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồng Gái;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 451/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con và chia nợ chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc D, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Bùi Ngọc Q, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số A ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị Kim S, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Lô A Khu đô thị M, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc D trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2016, chị và anh Nguyễn Văn P tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 81 ngày 13/6/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2021 giữa chị và anh P thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cãi vả, không còn tình cảm với nhau, mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành, nên cuộc sống không còn hạnh phúc nữa và đã ly thân từ tháng 05/2024 cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh P có một người con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017, hiện con đang sinh sống cùng với anh K. Khi ly hôn, chị đồng ý giao con chung cho anh P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị và anh P không có tài sản chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Lúc đầu vợ chồng chị có vay của chị Nguyễn Bùi Ngọc Q số tiền 35.000.000 đồng, thoả thuận vay 1.000.000 đồng lãi một tháng là 70.000 đồng.
Tháng đầu tiên đã trả tiền gốc 5.000.000 đồng và tiền lãi 2.450.000 đồng; mỗi tháng sau là đóng tiền lãi là 2.100.000 đồng đến đầu tháng 01/2024, thì không đóng nữa. Sau đó, thì vợ chồng chị trả thêm tiền gốc: 03 lần 2.000.000 đồng, 01 lần 1.000.000 đồng, tổng là 7.000.000 đồng. Nên vợ chồng chị còn nợ chị Q tiền gốc là 23.000.000 đồng và đã trả lãi được đến hết ngày 12/8/2023.
Khi ly hôn, chị có trách nhiệm trả chị Q ½ số tiền gốc và lãi theo quy định cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q. Còn số tiền lãi đã đóng trước đây, do nhu cầu cần tiền xoay sở, nên chấp nhận vay, thì chấp nhận chịu, nên chị không yêu cầu Toà án tính lại số tiền này.
Bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:
Anh thống nhất lời trình bày của chị D về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, anh có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Đặng Thị Ngọc D.
- Về quan hệ con chung: Hiện nay anh là người nuôi con, nên khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017 đến tuổi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Anh và chị D không có tài sản chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Số tiền cụ thể còn thiếu chị Q bao nhiêu, anh đồng ý trả ½ gốc và lãi cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Bùi Ngọc Q, do người đại diện theo uỷ quyền là chị Nguyễn Thị Kim S trình bày:
Ngày 15/6/2022, chị Q có cho vợ chồng anh Nguyễn Văn P, chị Đặng Thị Ngọc D số tiền 35.000.000 đồng để trang trải việc gia đình. Vợ chồng anh P, chị D đã trả gốc và lãi, tính đến ngày 11/8/2023 còn nợ lại chị Q số tiền 23.000.000 đồng. Nay vợ chồng anh P, chị D ly hôn, chị Q có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu anh P, chị D mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho chị Q số tiền gốc 11.500.000 đồng (23.000.000 đồng/2) và tiền lãi từ ngày 12/8/2023 đến ngày hoà giải 25/11/2024 là 15 tháng 13 ngày là 1.479.000 đồng, tổng cộng mỗi người phải trả cho chị Q 12.979.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q. Chị Q yêu cầu chị D, anh P trả cho chị Q một lần. Chị Q xin rút lại một phần yêu cầu độc lập đối với số tiền gốc 12.000.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Chị Đặng Thị Ngọc D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
- Về quan hệ con chung: Chị đồng ý giao con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017 cho anh P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị và anh P không có tài sản chung, nên không yêu cầu Hội đồng xét xử (HĐXX) giải quyết.
Về nợ chung: Chị có trách nhiệm trả chị Q ½ số tiền gốc và lãi theo quy định cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q. Do hoàn cảnh hiện nay khó khăn, chưa đi làm được, nên từ ngày 10/3/2025 trở về sau mỗi tháng trả cho chị Q 3.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Anh Nguyễn Văn P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Đặng Thị Ngọc D.
- Về quan hệ con chung: Hiện nay anh là người nuôi con, nên anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017 đến tuổi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Anh và chị D không có tài sản chung, nên không yêu cầu HĐXX giải quyết.
Về nợ chung: Thống nhất số tiền nợ gốc và lãi do chị Q yêu cầu, do hoàn cảnh hiện nay khó khăn, chưa đi làm được, nên từ ngày 10/3/2025 trở về sau mỗi tháng trả cho chị Q 3.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Người đại diện theo uỷ quyền là chị Nguyễn Thị Kim S trình bày:
Chị yêu cầu chị D, anh P mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho chị Q số tiền gốc 11.500.000 đồng (23.000.000 đồng/2) và tiền lãi từ ngày 12/8/2023 đến ngày xét xử 12/12/2024 là 16 tháng với lãi suất chậm trả 10%/năm (0,83%/tháng) số tiền 1.527.200 đồng (nhưng yêu cầu tính tròn là 1.500.000 đồng), tổng cộng mỗi người phải trả cho chị Q 13.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q. Chị Q yêu cầu chị D, anh P trả cho chị Q một lần. Chị Q xin rút lại một phần yêu cầu độc lập đối với số tiền gốc 12.000.000 đồng
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Đặng Thị Ngọc D yêu cầu xin ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Văn P; chị Nguyễn Bùi Ngọc Q có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu vợ chồng chị D, anh P phải trả nợ vay còn thiếu, nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp xin ly hôn, nuôi con và chia nợ chung. Bị đơn anh Nguyễn Văn P có nơi cư trú tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị D và anh P tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 81 ngày 13/6/2017. Như vậy, hôn nhân giữa chị D với anh P là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Chị D yêu cầu được ly hôn với anh P, vì cho rằng vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cãi vả, không còn tình cảm với nhau, mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành, nên cuộc sống không còn hạnh phúc nữa và đã ly thân từ tháng 05/2024 cho đến nay. Việc này cũng được anh P chấp nhận. Nên HĐXX, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị D với anh P.
[2.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị D và anh P có một người con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017. Hiện nay, con đang sinh sống cùng với anh K. Vì vậy, khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh K được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh P cũng đồng ý nuôi con, nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
[2.3.1] Về quan hệ tài sản chung: Chị D và anh P xác định anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
[2.3.2] Về nợ chung: Chị Nguyễn Bùi Ngọc Q yêu cầu chị D, anh P mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho chị Q số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử (sau khi được tính tròn) là 13.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ cho chị Q.
Đối với yêu cầu của chị Q: Chị D, anh P đều thừa nhận nợ chị Q 23.000.000 đồng tiền gốc (mỗi người là 11.500.000 đồng) và đồng ý chịu lãi chậm trả theo quy định cả pháp luật. Đây là các tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần phải chứng minh và được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy
định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Q.
Đối với trình bày của chị D, anh P về việc xin chị Q cho anh chị từ ngày 10/3/2025 trở về sau mỗi tháng trả cho chị Q 3.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong nợ, vì hiện nay anh chị chưa đi làm được. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của chị Q không đồng ý và yêu cầu chị D, anh P trả một lần số tiền nợ. Theo quy định tại mục I phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ T hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: Tòa án không ấn định trong Bản án, Quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành án, nên HĐXX không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của chị D, anh P. Tuy nhiên, nếu chị D, anh P thật sự có khó khăn về kinh tế, thì có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
[2.4]. Đối với việc chị Q rút lại một phần yêu cầu độc lập đối với số tiền gốc 12.000.000 đồng.
Việc chị Q rút một phần yêu cầu độc lập trên tinh thần tự nguyện, không trái với pháp luật, nên HĐXX căn cứ vào Điều 244, đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của chị Q.
Do đó, trong quá trình nghị án và thảo luận, HĐXX có cơ sở chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về con chung giữa nguyên đơn với bị đơn. Chấp nhận yêu cầu độc lập và đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Đặng Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Chị Đặng Thị Ngọc D và anh Nguyễn Văn P mỗi người phải nộp án phí sơ thẩm 5% trên số tiền phải trả cho chị Nguyễn Bùi Ngọc Q 13.000.000 đồng là 650.000 đồng.
Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Bùi Ngọc D1.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 244, Điều 246, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị Ngọc D với anh Nguyễn Văn P.
2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Đặng Thị Ngọc D với anh Nguyễn Văn P về việc: Chị D đồng ý giao con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/8/2017 cho anh P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Nguyễn Văn P nuôi con; chị Đặng Thị Ngọc D quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Đặng Thị Ngọc D và anh Nguyễn Văn P xác định anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
Về nợ chung: Buộc chị Đặng Thị Ngọc D và anh Nguyễn Văn P mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Bùi Ngọc Q số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử (sau khi được tính tròn) 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Bùi Ngọc Q đối với yêu cầu chị Đặng Thị Ngọc D và anh Nguyễn Văn P phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Buộc chị Đặng Thị Ngọc D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng và án phí sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho chị Q là
650.000 đồng, tổng cộng là 950.000₫ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009612 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị D còn phải nộp thêm 650.000₫ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc anh Nguyễn Văn P phải nộp án phí sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho chị Q là 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Hoàn trả cho chị Nguyễn Bùi Ngọc Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.078.000đ (Một triệu không trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009622 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
6. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 193/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con và chia nợ chung
- Số bản án: 193/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con và chia nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Ngọc D kiện Nguyễn Văn Ph
