TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2024/DS-PT Ngày: 06-11-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1952 và bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1953
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đoàn Thanh L, sinh năm 1977 (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 01/8/2024)
Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Trường D, Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn:
+ Ông Đỗ Công T1, sinh năm 1968
+ Bà Dương Thị T2, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
+ Ông Ngô Thành S, sinh năm 1960
+ Bà Trần Thị L1, sinh năm 1964
Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1945
+ Bà Trần Thị L2, sinh năm 1945
Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
+ Bà Đoàn Thị Thanh L3, sinh năm 1971
+ Bà Đoàn Thị Thanh T4, sinh năm 1974
+ Ông Đoàn Thanh L, sinh năm 1977
+ Bà Đoàn Thị Thanh L4, sinh năm 1983
+ Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
+ Bà Đoàn Thị Thanh L5, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H-Bình Thuận.
Do có kháng cáo của: Nguyên đơn ông Đoàn Văn T, bà Ngô Thị Đ.
Tại phiên toà, có mặt: Ông Đoàn Thanh L, bà Ngô Thị Đ, ông Nguyễn Trường D, bà Đoàn Thị Thanh T4, bà Đoàn Thị Thanh L4, bà Đoàn Thị Thanh L5. Vắng mặt những người còn lại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/8/2022, nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ ủy quyền cho ông Đoàn Thanh L trình bày:
Ngày 16/6/1988, Ủy ban nhân dân xã H nay là thị trấn P chứng nhận cấp cho gia đình ông bà 12.500m² lập thành vườn rừng, tại Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Năm 2012 đến 2014 ông bà có mang giấy tờ đất đến thị trấn P xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị thất lạc, tháng 4/2022 đến đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết ông Ngô Thành S mua trụ bê tông rào đất, ông bà có hỏi thì được biết UBND huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 diện tích 16.060m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp 24.586,8m² cho ông Đỗ Công T5 và Dương Thị T2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019. Ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 đã lấn đất của ông bà qua đo đạc thực tế là 5.283,7m² và ông Đỗ Công T1 và Dương Thị T2 lấn chiếm đất của ông bà qua đo đạc thực tế là 3.041,9m². Nay vợ chồng ông bà yêu cầu ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 trả cho ông bà 5.283,7m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị Lệ . Yêu cầu ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị Thanh T6 cho ông bà 3.041,9m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2 và công nhận diện tích đất 53m² và 1.032m² chưa xác định đất của ai cho ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ.
Bị đơn vợ chồng ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 vắng mặt nhưng tại bản khai ngày 09/12/2022 trình bày:
Trên diện tích đất tranh chấp 5.283,7m² có nguồn gốc từ năm 1988 đến năm 1990 vợ chồng ông bà sử dụng đem cây lử long trồng làm hàng rào để giữ đất đến ngày 29/5/2017 Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi vợ chồng ông bà sử dụng đất cho đến hôm nay. Nay vợ chồng ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ yêu cầu vợ chồng ông bà trả lại 5.283,7m² thuộc thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 thì vợ chồng ông bà không đồng ý.
Bị đơn vợ chồng ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị Thanh V mặt nhưng tại bản khai ngày 09/12/2022 trình bày:
Trên diện tích đất tranh chấp 3.041,9m² có nguồn gốc vào năm 2019, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T3 diện tích 24.586,8m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2. Nay ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ yêu cầu vợ chồng ông bà trả lại diện tích đất đo đạc thực tế là 3.041,9m² thì vợ chồng ông bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 vắng mặt nhưng tại bản khai ngày trình bày:
Đất ông khai hoang từ năm 1980 đến năm 2019 chuyển nhượng cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Thanh L3, bà Đoàn Thị Thanh T4, ông Đoàn Thanh L, bà Đoàn Thị Thanh L4 ông Nguyễn Thanh M, ông Đoàn Thị Thanh L5 trình bày:
Ông bà đồng ý theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào:
Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 4, Điều 100, khoản 7 Điều 166, khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai.
Tuyên xử:
- Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc yêu cầu ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 trả cho ông bà 5.283,7m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị Lệ .
- Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc yêu cầu ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị Thanh T6 cho ông bà 3.041,9m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2.
- Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc công nhận cho ông bà diện tích đất 53m² và 1.032m² chưa xác định đất của ai. (có sơ đồ vị trí kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/6 và ngày 10/7/2024, ông Đoàn Thanh L – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Yêu cầu thu hồi sổ đỏ của thửa đất số 520, tờ bản đồ số 23, diện tích 24.568,8m², thu hồi sổ đỏ của thửa đất số 373, tờ bản đồ số 23, diện tích 16.060m².
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn bà Ngô Thị Đ vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và giải quyết như sau:
+ Thu hồi sổ đỏ của thửa đất số 520, tờ bản đồ số 23, diện tích 24.568,8m². Trả lại phần diện tích đã xâm chiếm của gia đình nguyên đơn thể hiện trên bản đồ thẩm định đo đạc diện tích 3.041,9m²/24.568,8m².
+ Thu hồi sổ đỏ của thửa đất số 373, tờ bản đồ số 23, diện tích 16.060m². Trả lại phần diện tích đã xâm chiếm của gia đình nguyên đơn thể hiện trên bản đồ thẩm định đo đạc diện tích 5.287,3m²/16.060m².
- Các bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt, xác định giữ nguyên toàn bộ ý kiến có tại hồ sơ vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, bà Trần Thị L2 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt, xác định giữ nguyên toàn bộ ý kiến có tại hồ sơ vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Thanh T4, bà Đoàn Thị Thanh L4, bà Đoàn Thị Thanh L5: Thống nhất với ý kiến của ông Đoàn Thanh L, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Yêu cầu Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, xem xét những nội dụng mà án sơ thẩm đã tuyên mà bị kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Thanh L– người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
[3.1] Nguyên đơn xác định diện tích đất tranh chấp là 9.651,3m² theo Bản đồ vị trí thửa đất tranh chấp do Công ty TNHH T7 đo vẽ ngày 02/3/2023, cụ thể như sau: Diện tích 5.283,7m²/16.060m² đất thuộc thửa đất số 373, tờ bản đồ số 23, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 29/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1; Diện tích 3.041,9m²/24.568,8m² đất thuộc thửa đất số 520, tờ bản đồ số 23, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2 và đề nghị công nhận diện tích đất 53m² và 1.032m² chưa xác định đất của ai cho ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ. Các thửa đất đều tọa lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
[3.2] Căn cứ Văn bản số 236/UBND-NC ngày 23/01/2024 của Ủy ban nhân dân huyện H đã xác định: Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Diện tích 9.651,3m² đất tranh chấp tại khu phố P, thị trấn P có nguồn gốc trước năm 1990 là sa động cát hoang hóa, cây chồi mọc, không đưa vào Hợp tác xã quản lý, cũng không ai kê khai đăng ký trong sổ địa chính. Năm 1998, ông Ngô Thành S và ông Đỗ Công T1 đã tác động, sử dụng đất nhưng không ổn định, liên tục và đất tranh chấp được đưa vào quy hoạch 03 loại rừng giai đoạn 2000-2010 theo Quyết định số 09/2001/QĐ-CT.UBBT ngày 12/02/2001 của UBND tỉnh B, nhưng ông S và ông T1 vẫn tiếp tục sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2007 thì Nhà nước đã tách diện tích đất do hộ dân đang canh tác, sử dụng ra ngoài quy hoạch 03 loại rừng theo Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 13/3/2007 (trong đó có đất tranh chấp) và ông S, ông T1 đã sử dụng đất đến thời điểm tranh chấp. Căn cứ Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của huyện H được UBND tỉnh phê duyệt kèm theo Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 06/02/2023 thì vị trí diện tích 9.651,3m² đất tranh chấp nằm trong quy hoạch sử dụng đất trồng cây hàng năm, không thuộc trường hợp thu hồi đất.
Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 diện tích 5.283,7m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2 diện tích 3.041,9m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 là đã công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Ngô Thành S và ông Đỗ Công T1. Đối với diện tích đất 53m² và 1.032m² chưa xác định đất của ai hiện do Nhà nước quản lý. Như vậy, diện tích đất tranh chấp 9.651,3m² ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ cho rằng đất của ông bà nhưng không đưa ra chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng hợp pháp cũng như quá trình canh tác sử dụng đất của mình theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
[4] Đối với yêu cầu thu hồi các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 29/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2.
Trong quá trình khởi kiện sơ thẩm nguyên đơn không khởi kiện nội dung này và Tòa sơ thẩm cũng không thụ lý giải quyết nên căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo này
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng trên đất có 10 cây tràm trên 30 năm tuổi do cha ông trồng nhưng ông, nguyên đơn bà Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khẳng định không yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm đi xác minh, giám định lại những cây tràm này, chỉ yêu cầu xem xét những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét những tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ để giải quyết vụ án mà không tiến hành xem xét, thẩm định, giám định.
[6] Nguyên đơn căn cứ vào tài liệu là “Đơn xin cấp đất xây dựng vườn rừng ngày 19/5/1988” có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn P) là “thuận cấp cho ông Đoàn Văn T 12.500m² lập vườn rừng theo sơ đồ” là căn cứ để đi khởi kiện. Tuy nhiên, xét về nội dung đây chỉ là đơn xin để Cơ quan nhà nước xem xét chấp nhận giao phần đất để lập vườn rừng, không thể hiện vị trí, tứ cận cụ thể và nguyên đơn cũng không chứng minh được quá trình sử dụng đất, không có hồ sơ xin xét cấp đất đối với diện tích tranh chấp này.
[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng diện tích đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 9.651,3m² thuộc quyền sở hữu của mình và buộc bị đơn phải trả diện tích đất này là không có căn cứ để chấp nhận. Toà án cấp sơ thẩm trên cơ sở đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật.
[8] Ông Đoàn Thanh L – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, do ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ (người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Thanh L). Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Căn cứ: Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238, 293, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 4, Điều 100, khoản 7 Điều 166, khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai; Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc yêu cầu ông Ngô Thành S và bà Trần Thị L1 trả cho ông bà 5.283,7m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 447634 ngày 19/5/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Ngô Thành S và bà Trần Thị Lệ .
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc yêu cầu ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị Thanh T6 cho ông bà 3.041,9m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 106461 ngày 04/5/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đỗ Công T1 và bà Dương Thị T2.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ về việc công nhận cho ông bà diện tích đất 53m² và 1.032m² chưa xác định đất của ai.
2. Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.
3. Về chi chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 19.992.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng). Ông Đoàn Văn T và bà Ngô Thị Đ đã nộp đủ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/11/2024).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 193/2024/DS-PT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 193/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
