Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 193/2024/HSST

Ngày: 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nhàn.

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
    2. Trần Quang Ngà
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 182/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN P (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 9 năm 1991 tại

Bình Định; nơi thường trú: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; chỗ ở: Công ty TNHH N2, số B đường T, làng N, xã I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1965; bị cáo có 02 em ruột, bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Mỹ C (đã ly hôn năm 2022), bị cáo có hai người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn P bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14-6-2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

2. Những người tham gia tố tụng:

  • - Bị hại:

    Anh Trương Hữu N, sinh năm 1989; địa chỉ: Làng K, phường T thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

    + Chị Huỳnh Thị Mỹ C, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố

1

P, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.

  • + Anh Đoàn Minh N1, sinh năm 1999; địa chỉ: Hẻm D P, Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.

  • + Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P và chị Huỳnh Thị Mỹ C trước đây có quan hệ chồng, nhưng đã ly hôn từ tháng 8 năm 2023. Chị C và ông Trương Hữu N có xảy ra mâu thuẫn cá nhân với nhau và đã được Công an phường T, TP . giải quyết.

Khoảng 12 giờ ngày 25/4/2024, khi chị Huỳnh Thị Mỹ C đang ngồi uống nước với Nguyễn Văn P và các anh Nguyễn Văn V1, Đoàn Minh N1 tại quán C1 ở làng N, xã I, TP ., thì giữa chị C và ông N tiếp tục cãi nhau qua điện thoại di động. Chị C hỏi ông N đang ở đâu, thì ông N trả lời đang ở bãi xe ô tô số 65 đường T, Tổ G, phường I, TP .. Chị C nhờ anh N1 điều khiển xe ô tô (biển số 81A-275.43) của N1 chở đến chỗ ông N để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn với ông N. Do khi đi uống nước, thì C, P, V1 cùng đi xe ô tô với N1, nên khi C nhờ N1 chở đi gặp ông N thì P và V1 cũng đi theo, để sau đó cùng đi về. Khi đến bãi xe ô tô ở số F đường T, Tổ G, phường I, TP ., C xuống xe đến gặp, nói chuyện với ông N; P, V1, N1 cũng xuống xe đi theo C. Tại đây, giữa C và ông N tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, to tiếng với nhau; ông N dùng tay gạt, đẩy C ra. Lúc này khoảng 13 giờ cùng ngày, P đang đứng bên cạnh C, cách Chi khoảng 01m và đối diện với ông N; thấy ông N dùng tay gạt, xô đẩy C, P bực tức nên dùng tay phải đấm 01 (một) phát trúng vào mũi của ông N, thì được V1 và N1 đến can ngăn. Ngay sau đó, N1 điều khiển xe ô tô chở C, V1 và P ra về, còn ông N đến Bệnh viện H điều trị thương tích ở vùng mũi do bị P đấm. Ngày 04/5/2024, ông N xuất viện và đến Công an phường I, TP . trình báo vụ việc.

Ngày 06/5/2024, Nguyễn Văn P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đầu thú và khai nhận về hành vi dùng tay đấm trúng vào mũi của ông Trương Hữu N vào ngày 25/4/2024, như nêu trên. Qua giám định, tại Kết luận giám định số: 249/KLTTCT-TTPY ngày 05/6/2024 và Công văn số 42/TTPY-KGĐ ngày 21/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận ông N bị tổn thương cơ thể 11% (mười một phần trăm).

Tại bản Cáo trạng số: 196/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

  • Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  • Về vật chứng: Không.

  • Về dân sự: Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Văn P đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Trương Hữu N với số tiền 40.000.000 đồng; ông N không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.

  • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

  • Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai của bị hại tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định:

Khoảng 13 giờ ngày 25/4/2024, tại bãi xe ô tô ở số F đường T, Tổ G, phường I, TP ., do bực tức vì ông Trương Hữu N có hành vi dùng tay gạt, xô đẩy Huỳnh Thị Mỹ C (sinh năm 1991, trú số A đường N, phường C, TP . - là vợ cũ của Nguyễn Văn P, đã ly hôn), nên P dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào mũi ông N gây thương tích. Qua giám định, ông N bị tổn thương cơ thể 11% (mười một phần trăm).

Tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc

3

phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

  • Có tính chất côn đồ;

  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

  • ...

  • đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[3] Sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn P hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm và hậu quả nghiêm trọng của hành vi mà bị cáo thực hiện, bản thân bị cáo không có quan hệ quen biết và mâu thuẫn với bị hại. Tuy nhiên, chỉ vì bực tức việc bị hại có hành vì xô đẩy với vợ cũ của mình là chị C, bị cáo đã dùng tay đấm gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Qua giám định, bị hại bị tổn thương cơ thể 11% nên hành vi của bị cáo đã phạm và tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị hại làm đơn xin bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

4

sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại với số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Ông N không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn bãi nại, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo P. Do đó Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Không.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với chị Huỳnh Thị Mỹ C, qua điều tra xác định: Không có sự trao đổi, bàn bạc gì với bị cáo Nguyễn Văn P về việc mẫu thuẫn và gây thương tích cho bị hại Trương Hữu N; không có lời nói, hành động gì hô hào, cổ vũ trước và trong khi P thực hiện hành vi gây thương tích cho ông N. Đối với các anh Nguyễn Văn V1 và Đoàn Minh N1, qua điều tra xác định không có lời nói, hành động gì giúp sức để bị cáo thực hiện tội phạm trong vụ án này. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với chị C, các anh V1, N1 về vai trò đồng phạm với bị cáo P trong vụ án này, là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

    Xử buộc: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án

5

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;

  • - VKSND Tp. Pleiku;

  • - Công an Tp. Pleiku;

  • - Chi cục THADS Tp. Pleiku;

  • - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có);

  • - Những người tham gia tố tụng khác;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Nhàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 193/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger