Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Đ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/HSST

Ngày 18/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Hồng Minh

2. Bà Đỗ Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành P.

- Đại diện VKSND thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Ngày 18/10/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành P, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 191/2024/HSST ngày 09/18/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:196/2024/QĐXX-HS ngày 06/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cứ Thị M. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ

Sinh năm 1966. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Nông Nghiệp. Trình độ văn hoá: Không; Con ông: Cứ A V (đã chết), con bà: Vàng Thị S; Gia đình bị cáo có 8 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo có chồng: Vàng A S, sinh năm 1963. Bị cáo có 06 con. Tiền sự: Không. Tiền án: 01; Ngày 20/4/2018 bị TAND huyện Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 12/5/2023 chấp hành án xong án trở về địa phương, bản án này đến nay chưa xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2023, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Giàng Thị C, sinh năm 1994, trú tại bản Huổi Phạ, phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 20/12/2023, Cứ Thị M được một người đàn ông tự giới thiệu tên là Nhân (Ngân), nhà ở bản Cang xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên dẫn đến gần bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về bán. Tại đây M gặp và mua của một người đàn ông (không biết tên địa chỉ) đang đứng cạnh đường 01 gói nilon màu xanh, bên trong có các viên ma túy màu hồng với giá 1.000.000đ. Mua được ma túy Mo cầm về nhà giấu tại đầu giường ngủ của mình. Khoảng 15 giờ cùng ngày, M đi làm về thấy người đàn ông tự giói thiệu tên là D nhà ở xã N, thành phố Đ đang ở trong bếp nhà M đến hỏi mua ma túy, anh ta đồng ý mua gói ma túy của M với giá 1.100.000đ. Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày khi M và người đàn ông đang trao đổi mua bán thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy còn người đàn ông tên Dừng đã nhanh chóng chạy thoát.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 21/12/2023 đã xác định: Các viên nén màu hồng đục nghi ma túy tổng hợp thu giữ khi bắt quả tang của Cứ Thị M có khối lượng là 20,96 gam trích 05 viên nén màu hồng khối lượng 0,43 gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 128/KL-KTHS ngày 31/12/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Cứ Thị M có khối lượng 20,96 gam.

Mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cứ Thị M gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine./.

Vật chứng Hoàn lại sau giám định 20,53gam.

Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSTPĐBP ngày 08/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Cứ Thị M về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251/ Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Điện Biên Phủ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo M về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, q Khoản 2 Điều 251/ BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.

Xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, tại nhà ở của mình thuộc bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Cứ Thị M đang trao đổi mua bán ma túy cho một người đàn ông tên D thì bị bắt quả tang, vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon bên trong gồm các viên ma túy tổng hợp có khối lượng 20,96 gam kết luận là chất ma túy loại Methamphetamine.

Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông không biết tên tại bản L, xã M với giá 1.000.000₫ mục đích mua về cất giấu bán lẻ kiếm lời. Hành vi đi mua ma túy về nhà cất giấu tại gầm giường ngủ của mình sau đó bán cho người đàn ông tên D của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy”

Từ chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Ngày 20/4/2018 bị cáo đã bị TAND huyện Đ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 12/5/2023 chấp hành án xong án trở về địa phương, bản án này đến nay chưa xóa án tích. Bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tặng nặng "Tái phạm nguy hiểm" theo điểm q khoản 2 Điều 251/BLHS.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt mà pháp luật quy định do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

Cáo trạng của VKSND thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[2]. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa bàn xã Mường Phăng nói riêng và thành phố Đ nói chung. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy, đặc biệt là việc “Mua bán trái phép các chất ma túy”.

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì hám lời nên vẫn cố tình vi phạm. Do vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng của VKSND thành phố Đ đã truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo không được đi học.

Ngày 20/4/2018 bị cáo đã bị TAND huyện Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 12/5/2023 chấp hành án xong án trở về địa phương, bản án này đến nay chưa xóa án tích. Điều này cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.

Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân vẫn cố tình vi phạm cho nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.

[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét kinh tế bị cáo khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nên không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét trong vụ án này.

Đối với người đàn ông tên D đã mua ma túy của bị cáo theo bị cáo khai nhà ở xã Nà Tấu cơ quan điều tra đã điều tra không có người đàn ông nào tên D như bị cáo mô tả tại xã N, nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét trong vụ án này.

[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp, được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ 20,53 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định; 01 túi nilon màu xanh.

[7].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Cứ Thị M 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 20/12/2023)
  3. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

    Tịch thu tiêu huỷ 20,53 gam Methamphetamine được hoàn lại sau giám định; 01 túi nilon màu xanh.

    (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 09/8/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).

  4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Cứ Thị M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/10/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh ĐB
  • - VKSND TPĐ
  • - Công an TP Điện Biên Phủ;
  • - Nhà Tạm giữ - CATP Đ;
  • - Sở TP tỉnh Điện Biên;
  • - CCTHADS TP Điện B;
  • - CQTHA hình sự CATPĐBP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạc Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HSST ngày 18/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 193/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 12 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger