Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần K;

Địa chỉ trụ sở chính: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 2032/QĐ-NHKL-2024 ngày 24/7/2024) (ông T có mặt).

Địa chỉ: Số D, N, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Ong D; sinh năm: 1969 và bà Phan Thị Cao L; sinh năm: 1992 (ông D có mặt, bà L vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Ong Thế S; sinh năm: 2002 (vắng mặt)
  • Anh Ong Thế T1; sinh năm: 2006 (vắng mặt)

Cùng đại chỉ: Khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/01/2024 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Ngọc T trình bày:

Ông Ong D1 và bà Phan Thị Cao L có vay vốn của Ngân hàng thương mại Cổ phần K – Chi nhánh S1 – Phòng G, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022 Số tiền vay: 110.000.000 đồng (Một tram mười triệu đồng). Mục đích vay: Trồng hoa màu và chăn nuôi, giải ngân ngày: 13/5/2022
  2. Thời hạn vay: 12 tháng, ngày đến hạn 13/5/2023, lãi suất vay là: 12,9%/năm áp dụng với các khế ước nhận nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng. Các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng thương mại Cổ phần K tại thời điểm giải ngân cộng 3,8%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức cho vay). lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn: 150% (gấp 1.5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn.
  3. Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại Hợp đồng thế chấp số 286/17/HĐTC-BĐS/2101-5170 ngày 11/09/2017 cụ thể: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 712008, số vào số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS00488 do Sở T2, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 23/12/2016; thửa đất số 638, tờ bản đồ số 5, diện tích 1840.6 m² (Thửa đất có diện tích 192,6 m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình kênh thủy lợi); Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác; Thời hạn sử dụng đất: đến ngày 15/10/2063; Nguồn gốc sử dụng đất: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất tọa lạc khóm Đ, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 406058 số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00896 do Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 17/08/2015; thửa đất số 628, tờ bản đồ số 04, diện tích 176.0m²;

Hình thức sử dụng: sử dụng riêng 176.0 m², sử dụng chung: không; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất tọa lạc khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Ủy ban nhân dân phường B chứng ngày 12/09/2017 và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/09/2017 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã V theo đúng quy định pháp luật.

  1. Quá trình thanh toán nợ: Kể từ ngày vay đến nay ông Ong D và bà Phan Thị Cao L chưa thanh toán đủ gốc, lãi cho Ngân hàng nên vi phạm Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 30/9/2024 ông Ong D và bà Phan Thị Cao L còn nợ Ngân hàng K tổng số tiền là 156.353.250 đồng (trong đó: Nợ gốc: 110.000.000 đồng, tiền lãi: 8.366.329 đồng, phạt gốc: 36.827.906 đồng, phạt lãi: 1.159.825 đồng).

Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K toàn bộ số tiền 156.353.250 đồng (trong đó: Nợ gốc: 110.000.000 đồng, tiền lãi: 8.366.329 đồng, phạt gốc: 36.827.906 đồng, phạt lãi: 1.159.825 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022, kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông Ong D và bà Phan Thị Cao L trả hết nợ gốc cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K.

Trường hợp ông Ong D và bà Phan Thị Cao L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Ong D trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh đúng theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đúng theo hợp đồng tín dụng số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu.

Đối với bị đơn bà Phan Thị Cao L: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần K nhưng bà L không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà L và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn Ong D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn bà Phan Thị Cao L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ong Thế S và Ong Thế T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L cùng liên đới trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 156.353.250 đồng (trong đó: Nợ gốc: 110.000.000 đồng, tiền lãi: 8.366.329 đồng, phạt gốc: 36.827.906 đồng, phạt lãi: 1.159.825 đồng) và ông D, bà L phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Ong D và bà Phan Thị Cao L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Ong D và bà Phan Thị Cao L có địa chỉ khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Bị đơn bà Phan Thị Cao L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ong Thế S và Ong Thế T1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L tại Hợp đồng tín dụng số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 12,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông D, bà L còn nợ lại tiền nợ gốc là 110.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L thanh toán nợ nhưng ông D, bà L không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông D, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 30/9/2024 số tiền là 156.353.250 đồng (trong đó: Nợ gốc: 110.000.000 đồng, tiền lãi: 8.366.329 đồng, phạt gốc: 36.827.906 đồng, phạt lãi: 1.159.825 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K, ông Ong D và bà Phan Thị Cao L đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 286/17/HĐTC-BĐS/2101-5170 ngày 11/09/2017, dùng tài sản là thửa số 638, tờ bản đồ số 5 và thửa 628, tờ bản đồ số 04, tọa lạc khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Ong D và bà Phan Thị Cao L để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất thế chấp nêu trên thì: Tại thửa 628, tờ bản đồ số 04 hiện có tồn tại 01 căn nhà cấp 4 của ông Ong D và bà Phan Thị Cao L có kết cấu: Khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái tôn, nền lót gạch ceramic, có diện tích 80m² phần còn lại là đất trống; thửa 638 là đất trống. Toàn bộ 02 thửa đất nêu trên do ông Ong D và bà Phan Thị Cao L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông D, bà L đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ong Thế S và Ong Thế T1 là người ở chung trong căn nhà của ông D, bà L cũng không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông D, bà L thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 286/17/HĐTC-BĐS/2101-5170 ngày 11/09/2017, được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Ong D và bà Phan Thị Cao L liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L.

    Buộc ông Ong D và bà Phan Thị Cao L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 156.353.250 đồng (trong đó: Nợ gốc: 110.000.000 đồng, tiền lãi: 8.366.329 đồng, phạt gốc: 36.827.906 đồng, phạt lãi: 1.159.825 đồng). Ông Ong D và bà Phan Thị Cao L phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 215/22/HĐTD/2101-9364 ngày 13/5/2022 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Ong D và bà Phan Thị Cao L không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời, ông Ong Thế S, Ong Thế T1 có nghĩa vụ cùng ông Ong D và bà Phan Thị Cao L bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 628 (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị), diện tích 176m² và tài sản trên đất là 01 căn nhà cấp 4 của ông Ong D và bà Phan Thị Cao L có kết cấu: Khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái tôn, nền lót gạch ceramic, có diện tích 80m² thửa đất thuộc tờ bản đồ số 04 tọa lạc khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 406058 do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Ong D và bà Phan Thị Cao L ngày 17/8/2015; thửa đất số 638 (mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác), diện tích 1.840,6m² thuộc tờ bản đồ số 5 tọa lạc khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 712008 do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Ong D và bà Phan Thị Cao L ngày 23/12/2016 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 286/17/HĐTC-BĐS/2101-5170 ngày 11/09/2017.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Ong D và bà Phan Thị Cao L thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng thương mại Cổ phần K phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • Bị đơn ông Ong D và bà Phan Thị Cao L liên đới chịu 7.817.663 đồng.
      • Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.308.247 đồng theo biên lai thu số 0003227 ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Ong D và bà Phan Thị Cao L liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Ong D và bà Phan Thị Cao L có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 750.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

- VKSND thị xã Vĩnh Châu;

- Phòng KTNV&THATAND tỉnh Sóc Trăng;

- Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 193/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger