|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 193/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 9 – 2024 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tập
2. Ông Nguyễn Đức Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh – C/vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-
HNGĐ ngày 28/3/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024 giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H - Sinh năm: 1994 ( Có mặt).
- Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc K – sinh năm: 1973 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số B Y, thành phố B, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Tôi và ông Nguyễn Ngọc K tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau vào năm 2019 theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị NGọc N - sinh ngày 06/4/2020 và Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến tình cảm sứt mẻ, bản thân anh K có biểu hiện không chung thuỷ, có hành vi đánh đập, nguọc đãi tôi. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không thể duy trì nên tôi đề nghị được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.
Về con chung: Tôi đề nghị được nuôi dưỡng các con chung đến tuổi thành niên và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K trình bày:
Tôi và cô Nguyễn Thị Minh H tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau vào năm 2019 theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N - sinh ngày 06/4/2020 và Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021.
Quá trình chung sống, vọ chồng chúng tôi có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cô H hiểu sai về mối quan hệ của tôi với khách hàng. Cô H có lời lẽ xúc phạm, chửi tôi để tôi đánh cô H và ghi lại các bằng chứng là hình ảnh và đoạn ghi âm, ghi hình. Cô H cố ý nên không phải lỗi của tôi.
Nay cô H xin ly hôn thì tôi đồng ý ly hôn.
Về con chung tôi xin được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Ngọc N - sinh ngày 06/4/2020, còn cháu Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021 thì giao cho mẹ cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trình bày quan điểm:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến nay Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H. Bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N - sinh ngày 06/4/2020 và Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021 cho bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuôit thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là ly hôn và việc nuôi dưỡng con chung, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Ngọc K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B theo Giấy chứng nhận số 143/2008 ngày 10/9/2008 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự xác định trong thời gian chung sống đã phát sinh những mâu thuẫn mà cho đến nay không thể hòa giải và hàn gắn được. Tại phiên toà, các đương sự đều thống nhất ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H về việc đề nghị được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K là phù hợp.
Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N - sinh ngày 06/4/2020 và Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021. Các con chung hiện đang do bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét ý kiến được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N của ông Nguyễn Ngọc K, Hội đồng xét xử xét thấy: Các con chung đều mang giới tính nữ, ông K có công việc là lái xe Grap, qua xác minh tại địa phương thì ông K thường xuyên vắng nhà do tính chất công việc. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao các con chung cho bà Nguyễn Thị Minh H nuôi dưỡng trực tiếp là phù hợp nên không chấp nhận ý kiến của ông Nguyễn Ngọc K.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H. Bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N - sinh ngày 06/4/2020 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H1 - sinh ngày 18/9/2021 cho bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0009667 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải An |
4
Bản án số 193/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 193/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con
