Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 193/2024/HS-ST

Ngày 28-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Cầm Thị Đoa.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với:

Nguyễn Văn T, sinh ngày: 02/3/1989 tại huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Đào Thị L1, có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 03/6/2022 bị Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 03/9/2022; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đào Đình L2, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Bản Á, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Bùi Văn T1; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và Bùi Văn T1 cùng đi làm thuê cho Đào Đình L2 là cai thầu xây dựng tại huyện M. Khoảng 14 giờ ngày 27/02/2024, Nguyễn Văn T rủ Bùi Văn T1 đi đến nhà một người tên là S trước đây cùng đi làm thuê với T ở bản C, xã Đ, huyện M chơi. Tá mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Supercup 50 không có biển kiểm soát của Đào Đình L2 chở T1 đi vào nhà S, khi đến nơi không gặp S ở nhà nên T chở T1 đi về. Trên đường đi về Tá nảy sinh ý định mua ma túy mang về sử dụng nên đã chở T1 đi vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở bản C, xã Đ, huyện M. Khi vào đến nơi do trời lạnh nên Bùi Văn T1 ngồi dưới bếp sưởi lửa còn T đi lên phía trên nhà đưa cho người đàn ông dân tộc Mông 100.000 đồng nhờ mua hộ Heroine. Người đàn ông đó đi ra ngoài khoảng 15 phút quay lại rồi cùng T đi vào phòng ngủ lấy ra 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng Heroine đưa cho T, T cất giấu gói Heroine vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc. Sau đó người đàn ông dân tộc Mông lấy 03 viên H phiến ra và rủ T cùng sử dụng, T đồng ý. Thị ngồi dưới bếp đợi lâu nên đi lên phía trên nhà tìm T thì người đàn ông dân tộc M gọi T1 vào cùng sử dụng ma túy. Người đàn ông dân tộc M cầm chiếc điếu tự chế, 1 mảnh giấy bạc, 1 chiếc bật lửa ga màu đỏ và dùng mảnh giấy bạc xúc ma túy hồng phiến ở mảnh giấy bạc để trên bàn đốt hút ma túy vào cơ thể, sau đó đến T lấy dụng cụ và ma túy để sử dụng, khi thấy mọi người sử dụng ma túy thì T1 cùng lấy dụng cụ và ma tuý để sử dụng bằng cách đốt, hít vào cơ thể. Khi sử dụng ma túy xong thì T lấy gói Heroine từ túi áo bên phải ra cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe chở Thị đi về, việc T mua và cất giấu ma túy Bùi Văn T1 không biết. Trên đường đi về đến bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M thì gặp tổ công tác Công an xã Đ, huyện M tiến hành yêu cầu dừng xe kiểm tra, Nguyễn Văn T đã thả từ lòng bàn tay trái xuống đường 01 gói Heroine. Tổ công tác yêu cầu Nguyễn Văn T nhặt lên giao nộp, Nguyễn Văn T và Bùi Văn T1 khai nhận đó là gói ma túy của T tàng trữ để sử dụng cho bản thân, việc T mua và cất giấu ma túy Bùi Văn T1 không biết và không liên quan. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là H1; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Super Cup 50, không có biển kiểm soát.

Ngày 28/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 0,25 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu T2

Tại Kết luận giám định số 606/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là D; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,25 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D.

Ngày 01/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, nơi Nguyễn Văn T ném gói ma tuý khi bị kiểm tra xảy ra tại ngã ba đường dân sinh thuộc bản T, xã Đ, huyện M hướng đi từ bản Co Sung, xã Đ ra trung tâm xã Đ. Phía Bắc giáp vườn nhà bà Nguyễn Thị L3; Phía nam hướng đi bản C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; Phía Đông hướng đi trung tâm giáo dục thường xuyên huyện M, tỉnh Sơn La; Phía Tây tiếp giáp quán T3. Lấy cột điện 1.3/1.1 TBA Bản Áng 2 làm mốc, đường rộng 4,6m, lề đường phải rộng 2,2m, lề đường trái rộng 1,8m, bên phải có rãnh thoát nước rộng 0,8m.

Hiện trường cụ thể: Từ mốc cố định (cột điện 1.3/1.1) đến vị trí số 01 nơi tổ công tác Công an huyện M đứng làm nhiệm vụ là 12,4m. Tại phần đường bên phải đặt vị trí số 2 cách mốc cố định 5m, cách vị trí số 1 là 8,6m là vị trí tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn T và Bùi Văn T1 và là vị trí chiếc xe máy của các đối tượng. Vị trí số 3 là vị trí gói nilon màu hồng T thả từ trong lòng bàn tay trái xuống mặt đường, cách mốc cố định 5m, cách vị trí số 2 là 1m, cách vị trí số 1 là 8m. Quá trình khám nghiệm không phát hiện và thu giữ gì.

Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho anh Bùi Đình L4 quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SuperCup 50 không có biển kiểm soát.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu hồng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Bùi Văn T1.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Nguyễn Văn T nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

  • - Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đào Đình L2, người làm chứng anh Bùi Văn T1 đều vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy anh Đào Đình L2, anh Bùi Văn T1 đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, anh Đào Đình L2 đã được nhận lại tài sản, việc vắng mặt của anh Đào Đình L2 và anh Bùi Văn T1 không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật vắng mặt anh Đào Đình L2 và anh Bùi Văn T1.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã Đ thu giữ vào ngày 27/02/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Đ lập vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 27/02/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 27/02/2024 bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,25 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa được xóa tiền sự), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung:

Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SuperCup 50 thu giữ của Nguyễn Văn T. Xét thấy, chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của anh Đào Đình L2, anh L2 cho T mượn chiếc xe máy làm phương tiện đi làm thuê cho anh L2. Việc Nguyễn Văn T sử dụng xe máy đi mua ma túy vào ngày 27/02/2024 anh L2 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T. Kết quả tra cứu của Công an huyện M: Chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 24/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trao trả xe máy cho anh Đào Đình L2 quản lý, sử dụng là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu hồng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Bùi Văn T1. Xét thấy đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về các vấn đề khác:

Đối với Bùi Văn T1 không biết và không liên quan đến việc mua và cất giấu ma túy của Nguyễn Văn T nên không đề cập đến việc xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn T1, ngày 03/4/2024 Công an huyện M đã xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T và cho T và Bùi Văn T1 sử dụng ma túy, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho anh Bùi Đình L4 quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SuperCup 50 không có biển kiểm soát.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu hồng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Bùi Văn T1.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 8 năm 2024).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mộc Châu;
  • - CQCSĐT Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 193/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 27/02/2024 bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,25 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger