|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 193/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 16-7-2024. V/v: Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Xuân Thủy.
- - Hội thẩm nhân dân: Trần Thị Thu Hạnh và Bùi Thị Thu Giang.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Việt Hoa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thu Tân, Kiểm sát viên.
Ngày 16-7-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân & gia đình đã thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 06-3-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/QĐXX-ST ngày 20-5-2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐ-HPT ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh V.V.V, sinh năm 1980 (Có mặt).
HKTT: Số 16 ngách 178/1 phố Thái Hà, phường T.L, quận Đống Đa, Hà Nội.
Địa chỉ hiện nay: Quận Bairro Sambizanga, khu vực 13, Thành phố Luanda, Angola.
Bị đơn: Chị H.A, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
HKTT: Số 200 M.K, phường M.K, quận H.B.T, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn anh V.V.V trình bày :
Ngày 07-10-2011, Anh và chị H.A tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T.L quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 161/2011. Sau khi kết hôn, anh chị cùng nhau sang nước ngoài và chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Anh chị ly thân từ thời điểm năm 2018. Chị H.A đã về nước. Đến năm 2019 và năm 2020, anh có về nước mong hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả. Anh và chị H.A đã giải quyết vấn đề tài sản chung và thống nhất giao chị H.A số tiền bán nhà. Hai con chung do chị H.A nuôi dưỡng anh Văn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đ/tháng/1 con.
Ngày 15-12-2023, Anh V.V.V có khởi kiện xin ly hôn chị H.A gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, với lý do nêu trên. Anh đề nghị TAND Thành phố Hà Nội chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh. Về con chung: Anh chị có hai con chung : G.B sinh ngày : 26/8/2011 và B.A sinh ngày: 01/12/2012. Sau khi ly hôn, vì điều kiện vẫn đang làm việc tại Angola, anh đồng ý chị H.A là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Anh có trách nhiệm cấp dưỡng cho các con là 5.000.000 đ/1 tháng/1 con. Về tài sản chung: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.
Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý vụ án, Chị H.A và anh Văn vẫn liên lạc với nhau. Chị H.A không gửi ý kiến cũng như có mặt theo các văn bản triệu tập của tòa án mặc dù chị đã được thông báo qua điện thoại, tống đạt, niêm yết, ngày giờ tiến hành các hoạt động tố tụng của tòa án.
Tại phiên tòa:
- - Anh V.V.V giữ quan điểm, đề nghị được ly hôn với chị H.A. Về con chung anh đề nghị giao hai con chung để chị H.A trực tiếp nuôi dưỡng và anh có trách nhiệm cấp dưỡng cho các con là 5.000.000 đ/1 tháng/1 con. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội phát biểu ý kiến như sau:
- + Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- + Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh V.V.V và chị H.A đã trầm trọng, không thiện chí chung sống nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Văn. Về con chung: Nhất trí với đề nghị của anh V.V.V. Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét về tài sản chung. Anh Văn phải chịu án phí theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1]. Anh V.V.V xin ly hôn chị H.A khi anh đang làm việc sinh sống ở người nước ngoài nên vụ án Hôn nhân & Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Ngày 16/3/2024, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, giấy báo cho chị H.A tại địa chỉ số 200 M.K, H.B.T Hà Nội. Ngày 24/4/2024, ngày 27/5/2024, 16/6/2024 đã tiến hành niêm yết tại địa chỉ số 200 M.K và UBND phường M.K quận H.B.T các thông báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với chị H.A.
Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3]. Hôn nhân giữa Anh V.V.V và chị H.A trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
[4]. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra do bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống. Tại lời khai của anh V.V.V trình bày đã xảy ra mâu thuẫn, đã ly thân mỗi người sống một nơi một thời gian dài, anh đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Như vậy, cuộc sống vợ chồng giữa Anh V.V.V và chị H.A không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Văn có nguyện vọng chấm dứt hôn nhân là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân & Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Văn. Để anh Văn được ly hôn chị H.A .
[5]. Anh V.V.V tại đơn xin ly hôn trình bầy: Anh chị có hai con chung: G.B sinh ngày: 26/8/2011 và B.A sinh ngày: 01/12/2012. Sau khi ly hôn, vì điều kiện vẫn đang làm việc tại Angola, anh đồng ý chị H.A là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Anh có trách nhiệm cấp dưỡng cho các con là 5.000.000 đ/1 tháng/1 con. Chị H.A được tống đạt thông báo thụ lý các giấy triệu tập của tòa án cũng không có ý kiến phản hồi. Tại biên bản lấy ý kiến của hai con chung là cháu G.B và cháu B.A (có sự chứng kiến của bố là anh V.V.V và đại diện tổ dân phố), các cháu cũng nhất trí với việc sau khi bố mẹ ly hôn các cháu sẽ ở với mẹ.
Do đó, đủ cơ sở chấp nhận đề nghị về con chung của anh V.V.V.
[6]. Về tài sản chung: Do nguyên đơn không yêu cầu, bị đơn vắng mặt không có ý kiên nên tòa không xem xét.
[7]. Về án phí: anh V.V.V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 26-12-2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì : anh V.V.V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H.A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân & Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 26-12-2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh V.V.V. Anh V.V.V được ly hôn chị H.A.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung: G.B sinh ngày : 26/8/2011 và B.A sinh ngày: 01/12/2012. Sau khi ly hôn, giao hai con chung cho chị H.A là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh V.V.V cấp dưỡng cho các con là 5.000.000 đ/1 tháng/1 con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Không ai được ngăn cản việc thăm nuôi và chăm sóc giáo dục con chung.
- Về tài sản chung, công sức và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên tòa không xét.
- Về án phí: Anh V.V.V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp đủ theo Biên lai số 0022996 ngày 06-3-2024 tại Cục thi hành án dân sự Hà Nội.
- Án xử công khai sơ thẩm, Anh V.V.V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H.A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tôn Thị Xuân Thủy |
Bản án số 193/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 193/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
