|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 193/2024/HSST Ngày 19/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Anh Dũng
2. Bà Trương Thị Thái
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương- Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Tòng Thị N
- Sinh năm 2005; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Tòng Văn T sinh năm 1986; Họ và tên mẹ: Lò Thị H sinh năm 1985: Gia đình có 3 chị em, Bị cáo là con thứ nhất; Theo danh chỉ bản số 428 lập ngày 18/6/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Trọng T1 sinh năm: 1984; Đăng ký HKTT: Thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 11/06/2024, N đang ở Xóm B, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội thì trên điện thoại của N có số zalo tên “N” gọi đến nhờ mua hộ 1,5 chỉ ma túy “ke” và 04 viên ma túy “kẹo”. N đồng ý và tìm chỗ mua. Sau đó, N gọi điện qua zalo cho 01 tài khoản zalo tên “T2”, N hỏi mua 1,5 chỉ ma túy “ke” và 04 viên ma túy “kẹo” với giá 4.000.000 đồng- “T2” đồng ý . N hẹn “Trọng” mang ma túy đến phòng trọ ở Xóm B, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội. N gọi điện lại cho zalo mang tên “N” và thông báo giá mua ma túy là 7.000.000 đồng- “Ngọc” đồng ý và hẹn N mang ma túy ra khu vực ngõ 1 thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội để giao bán. Khoảng 10 phút sau, “Trọng” mang ma túy đến cho N gồm 02 túi nilong là ma túy Ketamine và 01 túi nilong chứa 04 viên là ma túy MDMA. N cất 03 túi nilong vào 01 túi nilong to rồi dấu vào trong áo ngực bên trái của N đang mặc. Sau đó, N điều khiển xe máy BKS 29M1-722.15 đi bán ma túy cho đối tượng tên Z “N”. Khi đến ngõ 1 thôn Y, xã N, huyện T, Hà Nội, N gọi cho zalo “N” để ra lấy ma túy. Khi đang đứng chờ, N đã xóa hết lịch sử cuộc gọi và tin nhắn giữa N và đối tượng Z “T2” và Z “N”, sau đó N bị Tổ công bắt quả tang, niêm phong, thu giữ tang vật đồng thời đưa N về trụ sở làm việc.
Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Tòng Thị N xác định: N dương tính với ma túy.
Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Tòng Thị N.
Tại bản Kết luận giám định số 4442/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- - 01 túi nilong màu trắng kích thước (10 x 10) cm, bên trong có:
- + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (3 x 3) cm; 01 túi nilong kích thước (2,5 x 2,5) cm đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,941 gam.
- + 04 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilong kích thước (3 x 3) cm đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,583 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,272 gam ma túy Ketamine trong tổng số 1,941 gam ma túy Ketamine và 0,396 gam ma túy MDMA để tiến hành giám định, còn lại 1,187 gam ma túy MDMA hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận vào hồi 23 giờ 10 phút ngày 11/06/2024, tại đường V thuộc Đ, xã N, huyện T, Hà Nội bị cáo N đang tàng trữ trái phép 1,941 gam ma túy Ketamine và 1,583 gam ma túy MDMA với mục đích để bán thu lời bất chính, thì bị Tổ công tác Công an xã N bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên tòa: Do quen biết trước N nên anh T1 cho N mượn xe máy. Anh T3 không biết N sử dụng xe máy của mình để đi mua bán ma túy. Anh T3 đề nghị HĐXX xem xét trả lại anh chiếc xe máy thu giữ của N.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 186/CT-VKSTT ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Tòng Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Tòng Thị N mức án từ 28 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy BKS 29M1-722.15, nhãn hiệu SH Mode tạm giữ của N quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đỗ Trọng T1 (sinh năm: 1984, NKTT: Thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội), anh T1 cho N mượn xe và không biết N sử dụng xe vào việc phạm tội, nên đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe trên cho anh T1;
Đối với 01 điện thoại di động gắn sim số 0353130523, số IMEI 350636599224950 tạm giữ của N, quá trình điều tra xác định là tài sản của N sử dụng vào việc phạm tội, nên đề nghị HĐXX sung vào công quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng có tên zalo “N” hỏi mua ma túy và đối tượng có tên zalo “Trọng” bán ma túy cho N. Do N khai không biết tên và địa chỉ, ngoài lời khai của N ra thì không còn lời khai nào khác nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý sau, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đề nghị cho tuyên hủy số ma túy thu giữ của N
- - 01 túi nilong màu trắng kích thước (10 x 10) cm, bên trong có:
- + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilongkích thước (3 x 3) cm; 01 túi nilong kích thước (2,5 x 2,5) cm đều là ma túy loại Ketaamine, tổng khối lượng 1,941 gam.
- + 04 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilong kích thước (3 x 3) cm đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,583 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,272 gam ma túy Ketamine trong tổng số 1,941 gam ma túy Ketamine và 0,396 gam ma túy MDMA để tiến hành giám định, còn lại 1,187 gam ma túy MDMA hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ 10 phút ngày 11/06/2024, tại đường V thuộc Đ, xã N, huyện T, Hà Nội, bị cáo N đang tàng trữ trái phép 1,941 gam ma túy Ketamine và 1,583 gam ma túy MDMA với mục đích để bán thu lời bất chính, thì bị Tổ công tác Công an xã N bắt quả tang và thu giữ tang vật. Hành vi cất giấu ma túy bán kiếm lời của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo tàng trữ trái phép trái phép 1,941 gam ma túy Ketamine và 1,583 gam ma túy MDMA với mục đích bán kiếm lời là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo mới trưởng thành, là người dân tộc nhận thức còn hạn chế, bị cáo lần đầu phạm tội nên HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm thường xuyên, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy BKS 29M1-722.15, nhãn hiệu SH Mode tạm giữ của N quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đỗ Trọng T1 (sinh năm: 1984, NKTT: Thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội), anh T1 cho N mượn xe và không biết N sử dụng xe vào việc phạm tội, do đó HĐXX trả lại chiếc xe trên cho anh T1 chiếc xe máy trên;
Đối với 01 điện thoại di động gắn sim số 0353130523, số IMEI 350636599224950 tạm giữ của N, quá trình điều tra xác định là tài sản của N sử dụng vào việc phạm tội, nên HĐXX sung chiếc điện thoại trên vào công quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng có tên zalo “N” hỏi mua ma túy và đối tượng có tên zalo “Trọng” bán ma túy cho N. Do N khai không biết tên và địa chỉ, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý sau, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ
Đối với tang vật là ma túy cho tiêu hủy gồm:
- - 01 túi nilong màu trắng kích thước (10 x 10) cm, bên trong có:
- + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (3 x 3) cm; 01 túi nilong kích thước (2,5 x 2,5) cm đều là ma túy loại Ketaamine, tổng khối lượng 1,941 gam.
- + 04 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilong kích thước (3 x 3) cm đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,583 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,272 gam ma túy Ketamine trong tổng số 1,941 gam ma túy Ketamine và 0,396 gam ma túy MDMA để tiến hành giám định, còn lại 1,187 gam ma túy MDMA hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- 2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Tòng Thị N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2024.
- 3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo
- 4. Về vật chứng:
Trả lại anh Đỗ Tuấn T4 01 xe máy BKS 29M1-722.15, nhãn hiệu SH Mode; Số khung RLHJF5168KZ135504; Số máy: JF87E5074564 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Sung vào ngân sách nhà nước với 01 điện thoại di động gắn sim số 0353130523, số IMEI 350636599224950 thu giữ của N (Không kiểm tra chất lượng bên trong).
Tiêu hủy số ma túy thu giữ của N gồm: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên trong có chữ ký của Tòng Thị N, giám định viên Phạm Trần N1, Đoàn Ngọc O- cán bộ Công an xã N và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện T (bên trong có phong bì niêm phòng 1,669 gam ma túy loại Ketamin và 1,187 gam ma túy loại MDMA, còn lại sau giám định)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)
- 5. Về án phí và Quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hồng Tuấn |
Bản án số 193/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 193/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
