|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 193/2023/HSST Ngày 14 tháng 11 năm 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đức Lưu
- Bà Dương Thị Diễm
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 199/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 439/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với:
* Bị cáo: Đỗ Xuân L; Năm sinh: 1984; HKTT và nơi ở: Nhà M - TT Tổng công ty X, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Đỗ Xuân L1 (Sinh năm: 1947); Họ tên mẹ: Lê Minh H (Sinh năm: 1948); Họ tên vợ: Vũ Thị N, sinh năm 1989; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Công ty TNHH T2; Địa chỉ: Số E L, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Trà M – Giám Đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị M1 - Kế Toán Trưởng; Vắng mặt tại phiên tòa và xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 3 năm 2022, Đỗ Xuân L được nhận vào làm việc tại Công ty TNHH T2 (địa chỉ: số E L, phường C, quận B, thành phố Hà Nội) với vị trí công việc là nhân viên giao nhận hàng hóa. Trong các ngày 17, 20, 23 tháng 12 năm 2022, Đỗ Xuân L và lái xe là anh Phạm Hoài N1 (SN: 1995, HKTT: 36 xóm H, Trần Hưng Đ, H, Hà Nội) đã nhận hàng hóa từ thủ kho là anh Trần Hữu P (SN: 1993, địa chỉ: số C ngõ A N, phường N, Đ, Hà Nội) tại kho hàng của Công ty TNHH T2 ở số C C - N, T, Hà Nội, sau đó, đi giao các đơn hàng thực phẩm cho khách hàng trên địa bàn Hà Nội như sau:
- - Ngày 17/12/2022, giao 01 đơn hàng cho chị Phạm Thị Hồng H1 là quản lý cửa hàng A1 (địa chỉ: số A ngõ A H, phường T, Cầu G, Hà Nội) và được chị H1 thanh toán tiền mặt 868.000 đồng.
- - Ngày 20/12/2022, giao 01 đơn hàng cho chị Nguyễn Hoàng H2 là thu ngân của cửa hàng P1 (địa chỉ: 2 ngõ A T, phường Q, Đ, Hà Nội) và được chị H2 thanh toán tiền mặt 800.000 đồng.
- - Ngày 23/12/2022, giao cho các khách hàng:
- + Giao 01 đơn hàng cho chị Dương Thị T là chủ quán X1 (địa chỉ: số A G T, V, H) và được chị T thanh toán 970.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 19032638558777 mở tại ngân hàng T3 mang tên Đỗ Xuân L.
- + Giao 01 đơn hàng cho Đàm Xuân H3 là chủ cửa hàng T4 (địa chỉ: số B ngõ I H, phường N, Cầu G, Hà Nội) và được anh H3 thanh toán tiền mặt 4.924.000 đồng.
- + Giao 01 đơn hàng cho anh Đàm Trung H4 là nhân viên cửa hàng Viking Esport A tại (địa chỉ: G H, phường N, B, Hà Nội) và được anh H4 thanh toán tiền mặt 2.097.000 đồng.
- + Giao 01 đơn hàng cho anh Nguyễn Quý C là chủ quán C1, (địa chỉ: A V, phường T, Cầu G, Hà Nội) và được anh C thanh toán tiền mặt 1.551.000 đồng.
- + Giao 01 đơn hàng cho chị Nguyễn Thị T1 là Giám đốc Công ty F (địa chỉ: số A ngõ F Khu Ẩ, phường T, T, Hà Nội) và được chị Thu thanh t tiền mặt 2.784.000 đồng.
- + Giao 01 đơn hàng cho Dương Mỹ L2 là quản lý quán H6 (địa chỉ: B005 tòa T, M, N, Hà Nội) và đã được L2 thanh toán tiền mặt 2.160.000 đồng.
Chiều ngày 23/12/2022, sau khi giao hàng xong, khi gần về đến trước cửa kho Công ty tại địa chỉ C phố C, L bảo lái xe N1 cho xuống xe vì lý do có việc cá nhân. Sau đó, L đã cầm toàn bộ số tiền hàng của công ty là 15.454.000 đồng và không giao nộp cho kế toán công ty. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, L đi xe máy về quê ở xã H, T, Hà Nội, tắt máy số điện thoại 091.193.689 để Công ty không liên lạc đòi tiền được và bỏ việc không đi làm nữa. Ngày 24/12/2023, Công ty đã cử Nguyễn Trọng H5 và Phạm Hoài N1 đến nhà L tại địa chỉ Nhà M - TT Tổng Công ty X, T, Hà Nội để tìm nhưng không gặp được L. Khoảng một tuần sau, L mới về nhà thì được vợ mình là chị N cho biết có H5 và N1 đến nhà tìm để yêu cầu nộp lại số tiền đã chiếm đoạt của Công ty nhưng L vẫn không nộp lại. Do vậy, Công ty TNHH T2 đã làm đơn tố giác sự việc đến cơ quan Công an.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Xuân L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Số tiền 15.454.000 đồng L đã chi tiêu cá nhân hết.
* Về dân sự:
Ngày 29/3/2023, Đỗ Xuân L đã đến Công ty TNHH T2 trả lại số tiền 15.454.000 đồng. Công ty đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Đỗ Xuân L về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đỗ Xuân L theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Xuân L gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, đã nộp lại số tiền 15.454.000 đồng cho Công ty TNHH T2. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và trong lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ điều quan tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Đỗ Xuân L là nhân viên giao nhận hàng hóa tại Công ty TNHH T2. Vào các ngày 17, 20, 23 tháng 12 năm 2022, L thực hiện nhiệm vụ giao hàng và nhận được 15.454.000 đồng từ các khách hàng của công ty. Bị cáo đã lợi dụng sự tín nhiệm của Công ty và chiếm đoạt số tiền 15.454.000 đồng của Công ty TNHH T2.
Bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ vào thời điểm phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Đỗ Xuân L đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Bản Cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có không có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã tích cực bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Người bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt và đã có đơn xin bãi nại, xin giảm hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để bị cáo nuôi con nhỏ.
Vì vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, cũng là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được có cơ hội cải tạo và nuôi dưỡng các con nhỏ, nên cho bị cáo được cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình về mức hình phạt, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Không thu giữ vật chứng gì nên không xem xét.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Bộ luật hình sự 2015.
- - Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- - Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân L 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Xuân L cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3] Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 193/2023/HSST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 193/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Dỗ Xuân L
