TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2024/DS-ST Ngày: 08-8-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng Vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 678/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tạ Thị N, sinh năm 1969
Địa chỉ: G T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1955
Địa chỉ: B T, Phường C, Quận D, TP .
(Giấy ủy quyền ngày 08/12/2023)
Bị đơn:
- - Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1978
- - Bà Trịnh Thị Kim N1, sinh năm 1983
Cùng địa chỉ: A Ter A X, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: do có quen biết nên bà Tạ Thị N đã thỏa thuận giao kết bằng giấy viết tay vay tiền với bên vay là vợ chồng ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1. Cụ thể giấy vay tiền hai bên đã tự thỏa thuận số tiền vay, phương thức thanh toán vốn gốc và lãi vay với số tiền vay các lần dưới đây:
Giấy vay tiền thứ nhất: Ngày 12/10/2021 với số tiền vay là 150.000.000 đồng, giao tiền tại số nhà G T, Phường C, Quận D. Thời hạn vay 01 năm (12/10/2021-12/10/2022). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 13 hằng tháng, bắt đầu từ ngày13/11/2021.
Giấy vay tiền thứ hai: ngày 27/01/2022 với số tiền vay là 50.000.000 đồng, giao tiền cho ông Q tại số nhà G T, Phường C, Quận D. Thời hạn vay 01 năm (27/01/2022-27/01/2023). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 27 hằng tháng, bắt đầu từ ngày 27/01/2022. Tại Giấy vay tiền này, phần dưới nơi ký tên, bà N1 đã tiếp tục ký vay thêm 03 lần, cụ thể các đợt như sau:
- Ngày 01/3/2022: Bà Tạ Thị N tại cửa hàng của bà Trịnh Thị Kim N1, đã giao đủ số tiền cho vay là: 150.000.000 đồng, thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thoả thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
- Ngày 31/5/2023: Tại số nhà G T, Phường A, Quận D bà N1 có biên nhận vay của bà N số tiền: 150.000.000 đồng. Thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thoả thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
- Ngày 24/6/2023: bà Trịnh Thị Kim N1 có mượn của bà là Tạ Thị N số tiền: 150.000.000 đồng. Thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thoả thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
Tổng cộng số tiền 02 lần làm Giấy vay, nhưng trên thực tế thành 05 lần giao nhận tiền như giấy biên nhận vay tiền (ngày 12/10/2021 và giấy vay tiền ngày 27/01/2022), bà Trịnh Thị Kim N1 chốt lại vào ngày 24/6/2023 có mượn của bà Tạ Thị N tổng số tiền là: 650.000.000 đồng.
Riêng giấy thỏa thuận mượn tiền ngày 04/01/2023 bà Trịnh Thị Kim N1 nói mượn giúp cho bà Võ Thị N2, sinh năm 1974, thường trú tại số B B, Phường B, Quận D, bà N1 đã nhận số tiền 40.000.000 đồng. Đối với giấy vay nợ này bà sẽ khởi kiện bà Võ Thị N2 bằng vụ án khác.
Theo thoả thuận của bên vay là vợ chồng ông Q và bà N1, thời hạn vay là một năm kể từ ngày ký giấy vay tiền, đến nay đã quá hạn trả nợ, tính từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, vợ chồng ông Q và bà N1 không thanh toán vốn gốc vay và trả lãi như đã cam kết. Nhiều lần bà tới nhà tìm gặp ông Q và bà N1 vẫn không được, hai vợ chồng đã trốn tránh trách nhiệm thanh toán vốn gốc và tiền lãi vay cho bà hơn 05 tháng (từ 27/8/2023 đến nay).
Lần vay mà bà N1 tự ký vay, bà N1 nói ông Q đã bỏ nhà đi, bà N1 làm ăn kẹt vốn nên mượn tiền bà. Bà N1 nói dù ông Q bỏ đi nhưng bà N1 vẫn qua ngủ cùng ông Q, vẫn liên lạc với ông Q nên bà mới tin tưởng và giao tiền cho một mình bà N1.
Bị đơn trả lãi cho bà đến hết tháng 8/2023 thì ngưng. Bà N1 là người trả tiền lãi cho toàn bộ số tiền vay là 650.000.000 đồng. Tiền gốc bị đơn chưa trả.
Ngày 08/12/2023, bà N2 làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân Quận 4 giải quyết những vấn đề như sau:
- Buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 phải thanh toán cho bà tổng số tiền nợ gốc là: 650.000.000 đồng.
- Tính lãi suất 1%/tháng trên vốn vay 650.000.000 đồng từ ngày 01 tháng 9 năm 2023 đến khi kết thúc vụ án. Tạm tính đến tháng 8/2024 là 78.000.000 đồng.
Lúc vay nợ hai bên không thế chấp tài sản, nguyên đơn không giữ bất cứ giấy tờ gì của bị đơn. Số tiền vay là tiền riêng của cá nhân của bà N2, không liên quan đến ai khác. Chồng bà đã mất năm 2021.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, đồng bị đơn ông Nguyễn Minh Q trình bày: ông và vợ là bà Trịnh Thị Kim N1 có vay của bà Tạ Thị N theo các giấy vay tiền sau:
Giấy vay tiền lần thứ nhất: Ngày 12/10/2021 với số tiền vay là 150.000.000 đồng. Thời hạn vay 01 năm (12/10/2021-12/10/2022). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 13 hằng tháng, bắt đầu từ ngày 13/11/2021.
Giấy vay tiền thứ hai: ngày 27/01/2022 với số tiền vay là 50.000.000 đồng. Thời hạn vay 01 năm (27/01/2022-27/01/2023). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 27 hằng tháng, bắt đầu từ ngày 27/01/2022. Tại Giấy vay tiền này, phần dưới nơi ký tên có thêm nội dung: bà Trịnh Thị Kim N1 đã tiếp tục ký vay thêm của bà N 03 lần nữa. Phần này ông không biết vì vợ ông đã bỏ nhà đi hai năm rồi, hiện nay ông không liên lạc được với vợ. Ông không biết việc bà N1 mượn thêm tiền của bà N. Ông xác nhận chữ ký và chữ viết thêm ở phần vay thêm phía dưới giấy vay tiền ngày 27/01/2022 là của bà N1.
Đối với giấy vay tiền ngày 04/01/2023, người vay tiền là bà Võ Thị N2 chứ không phải ông và bà N1 nên ông không đồng ý giấy vay tiền này.
Việc trả lãi do bà N1 tự trả nên ông không biết bà N1 đã trả lãi bao nhiêu và đến khi nào thì ngưng. Ông chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền vay trên hai hợp đồng là 200 triệu. Còn phần bà N1 vay thêm 450 triệu nữa, bà N1 tự vay tự chịu trách nhiệm trả, ông không biết việc bà N1 vay tiền, cũng không sử dụng số tiền vay này. Lãi suất tính theo hợp đồng là 1%/tháng, tính từ tháng 9/2023 đến nay. Ngày 11/11/2022 ông chuyển ra ngoài ở, không còn ở chung với bà N1 nữa nên ông không biết việc bà N1 vay tiền, không đồng ý liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cùng bà N1. Lúc vay nợ, ông và bà N1 không thế chấp tài sản, nguyên đơn không giữ bất cứ giấy tờ gì của bị đơn.
Đồng bị đơn - bà Trịnh Thị Kim N1 vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bà N1 cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của bà.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đồng bị đơn ông Nguyễn Minh Q có mặt và vẫn giữ ý kiến như đã trình bày. Bị đơn bà Trịnh Thị Kim N1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số nợ gốc và lãi theo quy định tổng cộng là 728.000.000 đồng cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
- - Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng vay tiền hai bên đã ký kết, như vậy có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Quận D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: đồng bị đơn bà Trịnh Thị Kim N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N1.
[2]. Về nội dung:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 trả toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu theo các Hợp đồng vay tài sản mà 2 bên đã ký. Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có ký kết với nhau 02 giấy vay tiền, cụ thể như sau:
Giấy vay tiền thứ nhất: Ngày 12/10/2021 với số tiền vay là 150.000.000 đồng. Giao tiền tại số nhà G T, Phường C, Quận D. Thời hạn vay 01 năm (12/10/2021-12/10/2022). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 13 hằng tháng, bắt đầu từ ngày 13/11/2021.
Giấy vay tiền thứ hai: ngày 27/01/2022 với số tiền vay là 50.000.000 đồng. Giao tiền cho ông Q tại số nhà G T, Phường C, Quận D. Thời hạn vay 01 năm (27/01/2022-27/01/2023). Lãi suất: 1%/tháng, thanh toán tiền lãi vào ngày 27 hằng tháng, bắt đầu từ ngày 27/01/2022. Tại Giấy vay tiền này, phần dưới nơi ký tên, bà Trịnh Thị Kim N1 đã tiếp tục ký vay thêm 03 lần nữa, cụ thể các đợt như sau:
- Ngày 01/3/2022: tại cửa hàng của bà Trịnh Thị Kim N1, bà N2 đã giao đủ số tiền cho vay là: 150.000.000 đồng, thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thỏa thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
- Ngày 31/5/2023: Tại số nhà G T, Phường A, Quận D bà N1 có viết biên nhận vay của bà N2 số tiền: 150.000.000 đồng. Thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thỏa thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
- Ngày 24/6/2023: bà Trịnh Thị Kim N1 có mượn của bà N2 số tiền: 150.000.000 đồng. Thời hạn trả vốn gốc và thanh toán tiền lãi vẫn thoả thuận theo giấy vay tiền ngày 27/01/2022.
Tổng cộng số tiền 02 lần làm Giấy vay, nhưng trên thực tế thành 05 lần giao nhận tiền như giấy biên nhận vay tiền (ngày 12/10/2021 và giấy vay tiền ngày 27/01/2022) của bà Trịnh Thị Kim N1 chốt lại vào ngày 24/6/2023 có mượn của bà Tạ Thị N tổng số tiền là: 650.000.000 đồng.
Riêng giấy thỏa thuận mượn tiền ngày 04/01/2023 bà Trịnh Thị Kim N1 nói mượn giúp cho bà Võ Thị N2, sinh năm 1974, thường trú tại số B B, Phường B, Quận D, bà N1 đã nhận số tiền 40.000.000 đồng. Đối với giấy vay nợ này, bà N2 sẽ khởi kiện bà Võ Thị N2 bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Theo thoả thuận của bên vay là vợ chồng ông Q và bà N1, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày ký giấy vay tiền, đến nay đã quá hạn trả nợ, tính từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, vợ chồng ông Q và bà N1 không thanh toán vốn gốc vay và trả lãi như đã cam kết. Theo bà N2 thì lần vay mà bà N1 tự ký vay, bà N1 nói ông Q đã bỏ nhà đi, bà N1 làm ăn kẹt vốn nên mượn tiền bà. Bà N1 nói dù ông Q bỏ đi nhưng bà N1 vẫn liên lạc với ông Q nên bà N2 mới tin tưởng và giao tiền cho một mình bà N1. Bị đơn trả lãi cho bà đến hết tháng 8/2023 thì ngưng. Bà N1 là người trả tiền lãi, trả cho toàn bộ số tiền vay là 650.000.000 đồng. Tiền gốc bị đơn chưa trả cho bà N2.
Vì vậy, bà N2 khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân Quận 4 giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 phải thanh toán cho bà tổng số tiền nợ gốc là: 650.000.000 đồng.
- Tính lãi suất 1%/tháng trên vốn vay 650.000.000 đồng từ ngày 01 tháng 9 năm 2023 đến khi kết thúc vụ án. Tạm tính đến tháng 8/2024 là 78.000.000 đồng.
Lúc vay nợ hai bên không thế chấp tài sản, nguyên đơn không giữ bất cứ giấy tờ gì của bị đơn. Số tiền vay là tiền riêng của cá nhân của bà N2, không liên quan đến ai khác. Chồng bà đã mất năm 2021.
Xét việc thỏa thuận giữa các bên là phù hợp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Xét về trách nhiệm liên đới giữa ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 đối với việc thanh toán số tiền 450.000.000 đồng mà bà N1 03 lần vay thêm của bà Tạ Thị N: Ông Q thừa nhận việc bà N1 03 lần tự vay mượn tiền thêm của bà N được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân nhưng với mục đích gì thì ông không rõ. Ông Q cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh bà N1 vay tiền với mục đích riêng, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vì vậy, ông Q phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cùng bà N1 đối với số tiền 450.000.000 đồng mà ba lần bà N1 đã tự vay thêm của bà N theo quy định tại Điều 27, 30 và 37 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bị đơn mới chỉ trả lãi cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Giấy vay tiền ngày 12/10/2021, ngày 27/01/2022, các Điều 357, 463, 466, và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền nợ gốc chưa thanh toán là: 650.000.000 đồng.
Đối với nợ lãi, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 1%/tháng trên vốn vay 650.000.000 đồng từ ngày 01 tháng 9 năm 2023 đến khi kết thúc vụ án. Tạm tính đến tháng 8/2024 là 78.000.000 đồng. Mức lãi suất này là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì vậy: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền nợ gốc chưa thanh toán là: 650.000.000 đồng và nợ lãi là: 78.000.000 đồng, tổng cộng là: 728.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn;
Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 226, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 357, 463, 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 27, 30 và 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 650.000.000 (Sáu trăm năm mươi triệu) đồng, tiền lãi vay cho thời gian chậm trả nợ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 08/8/2024 theo lãi suất chậm trả 12%/năm là 78.000.000 (Bảy mươi tám triệu) đồng, tổng cộng là 728.000.000 (Bảy trăm hai mươi tám triệu) đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn phải nộp 33.120.000 (Ba mươi ba triệu một trăm hai mươi nghìn) đồng
- Trả lại cho bà Tạ Thị N toàn bộ số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 15.650.000 (Mười lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0034030 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Đông Nguyệt - Đinh Kim Hoàng | Huỳnh Tấn Phát |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 193/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 193/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xetx xử
