TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2023/HS-ST
Ngày 06 tháng 11 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Biên
2. Ông Nguyễn Văn Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 189/2023/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn G, sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không; Tại: Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi ở: tổ dân phố T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Thợ xây. Văn hóa: 01/12. Con ông: Triệu Văn T, sinh năm 1958 (đã chết) và bà: Trần Thị L, sinh năm 1956 (đã chết). Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Lâm Thị H, sinh năm 1981. Con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2013/HSST ngày 30/01/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; chấp hành xong án phạt tù ngày 09/01/2017; thời điểm phạm tội mới chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung số tiền 8.450.000 đồng nên chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2010/HSST ngày 29/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1988(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Thị H, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: xóm A (trước là xóm F), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Văn G, sinh năm 1983, trú tại xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định làm cai thầu nhận thi công các công trình xây dựng. Trong quá trình làm việc thì G có quen biết vợ chồng chị Trần Thị H1, sinh năm 1988 và anh Trịnh Văn H2, sinh năm 1986, trú tại xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đi làm công nhân xây dựng.
Ngày 18/7/2023, Triệu Văn G rủ chị Trần Thị H1 và anh Trịnh Văn H2 đến thành phố B làm công nhân xây dựng công trình tại khu dân cư trên địa bàn phường D, thành phố B mà G nhận thi công thì chị H1 và anh H2 đồng ý. G thuê trọ tại gia đình ông Ngô Văn M, sinh năm 1974 ở tổ dân phố T, phường D, thành phố B cho G và vợ chồng chị H1 cùng một số công nhân để ở và sinh hoạt. Chị H1 được phân công ở nhà trọ dọn dẹp nấu cơm cho công nhân.
Khoảng 06 giờ ngày 20/7/2023, G cùng mọi người đi ra công trình xây dựng làm việc còn một mình chị H1 ở lại phòng trọ để dọn dẹp. Khoảng 08 giờ 25 phút cùng ngày, G đi xe mô tô biển kiểm soát 17B4 – 070.38 từ công trình về phòng trọ mục đích để lấy Căn cước công dân thì nhìn thấy chị H1 đang nằm ở dưới chiếu trên nền phòng trọ. Thời điểm này, chị H1 vừa khỏi ốm. Khi thấy G đi về, chị H1 đi vệ sinh rồi đi ra ngồi trên chiếu. G đi đến gần chỗ chị H1 ngồi và cắm sạc pin điện thoại. Lúc này, G nảy sinh ý định giao cấu với chị H1 nên ngồi xuống cạnh chị H1 và hỏi “Em khỏe chưa”. Chị H1 trả lời “Em bình thường, em còn phải uống thuốc 06 tháng”. G hỏi tiếp “Em đã làm ăn được gì chưa”; ý G là hỏi chị H1 đã quan hệ tình dục được chưa. Chị H1 trả lời “Làm gì là làm gì, sức đâu mà làm”. G ngồi sát lại và ôm vào người chị H1; dùng tay phải đặt vào phía sau vai, tay trái ôm vào ngực và vật chị H1 ngã nằm ra chiếu. G nằm đè lên người chị H1, dùng hai tay ghì giữ người và bảo chị H1 cho G quan hệ tình dục. Chị H1 không đồng ý và chống cự lại, dùng hai tay đẩy G ra. Chị H1 khóc và van xin G dừng lại nhưng G không đồng ý mà vẫn nằm đè lên người chị H1, dùng tay ghì giữ người. Chị H1 liên tục dùng hai tay đẩy G ra nhưng không đẩy được. G dùng tay phải vén áo ngoài, áo ngực của chị H1 lên. Chị H1 chống cự lại, dùng tay kéo áo xuống dưới, tiếp tục đẩy G ra nhưng không được. G nằm đè lên người chị H1, ghì giữ người và hôn vào ngực. Chị H1 khóc, vừa chống cự lại vừa van xin. G dùng tay trái kéo cởi quần chị H1 xuống phía dưới chân thì bị chị H1 chống cự, dùng tay kéo quần lên. Chị H1 đạp chân chống cự nên G chỉ kéo được ống quần bên phải của chị H1 xuống qua đầu gối. Chị H1 dùng chân phải đạp vào người G, hai tay đẩy đầu G ra nhưng không được. G dùng tay dạng chân phải chị H1 ra và kéo lột ống quần dài bên phải và quần lót của chị H1 ra khỏi chân. G tụt người xuống dưới và hôn vào bộ phận sinh dục của chị H1. Chị H1 khóc, dùng hay tay đẩy đầu G ra nhưng không được. G dùng tay phải ghì giữ người chị H1; tay trái tự tụt quần đang mặc trên người ra đến chân rồi cho dương vật đã cương cứng vào bộ phận sinh dục của chị H1 nhưng bị chị H1 chống cự nên không cho vào bên trong được. G nằm trên người chị H1, tay phải cầm dương vật đưa vào bộ phận sinh dục của chị H1 rồi giao cấu khoảng 02 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo chị H1. Sau đó, G đứng dậy đi vào nhà vệ sinh lau rửa rồi đi đến công trường tiếp tục làm việc. Chị H1 ngồi dậy tự mặc quần và nằm trên chiếu khóc. Sau đó, chị H1 gọi điện thoại cho anh H2 bảo về nhà không làm việc nữa rồi đi vào nhà vệ sinh tắm rửa và thay quần áo. Chị H1 để bộ quần áo vừa mặc tại chậu nhựa trong nhà vệ sinh. Một lúc sau, anh H2 đi về phòng trọ thì chị H1 kể lại sự việc bị G hiếp dâm. Cùng ngày, chị H1 có đơn trình báo và đề nghị khởi tố đối với Triệu Văn G về hành vi hiếp dâm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khám nghiệm hiện trường tại phòng trọ của gia đình ông Ngô Văn M ở tổ dân phố T, phường D, thành phố B đã thu giữ trong nhà vệ sinh: 01 quần dài màu đen, 01 áo cộc tay màu xanh, 01 quần lót màu xanh là trang phục chị H1 mặc khi bị G hiếp dâm.
Cùng ngày, Triệu Văn G đến Công an thành phố B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra thu giữ của G 01 chiếc quần ngố màu đen; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xám; 01 chiếc quần dài thô màu xanh rêu; 01 chiếc áo công nhân xây dựng màu da cam; 01 đôi dép màu đen có kẻ trắng là trang phục mà G mặc khi hiếp dâm chị H1.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y về xâm hại tình dục và trưng cầu giám định mẫu ADN trong mẫu dịch âm đạo của chị Trần Thị H1.
Kết luận giám định xâm hại tình dục số 1563/23/KLXHTD-TTPY ngày 21/7/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đã khoa tỉnh B kết luận:
- Màng trinh: Giãn rộng, có nhiều vết rách cũ, không có tổn thương mới.
- Không thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của Trần Thị H1.
- Trên cơ thể của Trần Thị H1 không thấy dấu vết thương tích.
Kết luận giám định ADN số 422/23/KLGÐADN-PYQG ngày 27/7/2023 của V kết luận:
- Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên mẫu dịch thu âm đạo của chị Trần Thị H1: Dương tính.
- ADN nam giới thu từ mẫu dịch thu âm đạo của chị Trần Thị Huyền t khớp hoàn toàn với ADN của Triệu Văn G trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Triệu Văn G khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra tiến hành cho Triệu Văn G thực nghiệm hành vi hiếp dâm chị Trần Thị H1. Kết quả G thực hiện thuần thục các tư thế, động tác khi thực hiện hành vi hiếp dâm chị H1 như đã khai .
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lâm Thị H là vợ bị cáo G đã bồi thường cho chị Trần Thị H1 60.000.000 đồng. Chị H1 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 202/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Triệu Văn G về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Triệu Văn G khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị H trình bày: chị là vợ bị cáo G đã bồi thường cho bị hại 60.000.000 đồng. Đây là số tiền chung của vợ chồng nên chị không có ý kiến gì.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn G từ 06 năm 06 tháng đến 06 năm 09 tháng tù về tội “Hiếp dâm” . Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/7/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 quần dài màu đen, 01 áo cộc tay màu xanh, 01 quần lót màu xanh, 01 quần ngố màu đen, 01 chiếc áo phong cộc tay màu xám, 01 chiếc quần dài thô màu xanh rêu, 01 chiếc áo công nhân xây dựng màu da cam, 01 đôi dép màu đen có kẻ trắng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối hận về việc làm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Triệu Văn G đã thừa nhận hành vi của mình như toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định đã được cơ quan điều tra thu thập khách quan, đúng trình tự tố tụng. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa đã làm rõ sự thật khách quan về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện tội phạm của bị cáo, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chị Trần Thị H1 được Triệu Văn G thuê phục vụ nấu cơm cho công nhân thi công các công trình xây dựng do Triệu Văn G nhận hợp đồng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, chị H1 đang ngồi một mình trên chiếu tại phòng trọ ở tổ dân phố T, phường D, thành phố B thì G đi vào ngồi cạnh rồi dùng tay vật chị H1 nằm ra chiếu mục đích để quan hệ tình dục. Chị H1 không đồng ý và có lời nói van xin đồng thời dùng chân đạp, dùng tay đẩy ra và chống cự lại. G nằm đè lên người chị H1, dùng tay ghì giữ người chị H1 sau đó thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của chị H1 đến khi xuất tinh thì dừng lại. Hành vi của Triệu Văn G phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý, gây dự luận xấu trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 bị Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Năm 2013 bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình thực hiện; bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo Triệu Văn G có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa những sai lầm đã phạm phải.
[5] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Hội đồng xét xử không xem xét về phần bồi thường dân sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 quần dài màu đen, 01 áo cộc tay màu xanh, 01 quần lót màu xanh, 01 chiếc quần ngố màu đen, 01 chiếc áo phông cộc tay màu xám, 01 chiếc quần dài thô màu xanh rêu, 01 chiếc áo công nhân xây dựng màu da cam, 01 đôi dép màu đen có kẻ trắng đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Tiếp tục tạm giam bị cáo Triệu Văn G 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn G 06 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/7/2023.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 quần dài màu đen, 01 áo cộc tay màu xanh, 01 quần lót màu xanh, 01 chiếc quần ngố màu đen, 01 chiếc áo phông cộc tay màu xám, 01 chiếc quần dài thô màu xanh rêu, 01 chiếc áo công nhân xây dựng màu da cam, 01 đôi dép màu đen có kẻ trắng đã qua sử dụng (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 170/QĐ – VKS ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND TP Bắc Giang; - THADS TP Bắc Giang; - Công an TP Bắc Giang; - UBND xã G; - Những người TGTT; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thu Hà |
Bản án số 193/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hiếp dâm
- Số bản án: 193/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử 06 năm 06 tháng tù
