Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/DS-ST

Ngày: 05 - 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị A
  2. Bà Hà Thị Gái

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024.

- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).

Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2024)

- Bị đơn: Ông Phan Vũ Hoài L, sinh năm: 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số B L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/9/2022, Công ty T (Việt Nam), sau đây gọi tắt là (Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số 3594395 về việc cấp tín dụng cho ông Phan Vũ Hoài L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân cho số tiền cho vay đúng theo quy định.

Theo hợp đồng tín dụng, ông L có nghĩa vụ thanh toán thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.025.976 đồng, trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/10/2022 đến ngày 05/9/2024. Tuy nhiên, sau khi giải ngân, từ ngày 04/01/2023 ông L không thanh toán đầy đủ theo như nghĩa vụ đã cam kết.

Công ty đã nhắc nợ nhiều lần để yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ thanh toán, Tuy nhiên, ông L vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng cho công ty.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Phan Vũ Hoài L thanh toán tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 30/6/2023 là: 33.997.384 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 28.298.628 đồng, tiền lãi lãi quá hạn chưa thanh toán: 4.770.061 đồng, tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán: 813.890 đồng, tiền lãi chậm trả: 114.805 đồng.

Theo bản tự khai tại Tòa ngày 26/3/2024, ông Phan Vũ Hoài L trình bày: Ngày 06/9/2022 ông có vay tín chấp với Ngân hàng số tiền là 31.980.000 đồng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả gốc, tiền lãi và phí chậm trả thì ông đồng ý thanh toán. Tuy nhiên, xin ngân hàng thời hạn 03 tháng để thu xếp trả dứt nợ.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập bị đơn đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Phan Vũ Hoài L thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 05/7/2024 là 50.930.828 đồng, trong đó: nợ gốc là 28.298.628 đồng, tiền lãi phát sinh trong hạn là 11.370.387 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.229.614 đồng và số tiền lãi chậm trả là 1.032.199 đồng.

Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ thẻ tín dụng nên có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn hiện đang cư trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1]. Đối với yêu cầu bị đơn trả nợ gốc.

Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Tại mục 3.6 Khoản 3 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận như sau: Ông L có nghĩa vụ thanh toán trả góp tiền gốc và lãi hàng tháng, với kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 05/10/2022 đến ngày 05/9/2024, trả hàng tháng với số tiền là 2.025.976 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù chưa hết thời gian trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, ông L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc của mỗi kỳ thanh toán từ ngày 04/01/2023 là vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 28.849.026 đồng.

[2.2]. Đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ lãi với số tiền.

Tại mục 3.7 và 3.8 của Khoản 3, mục 8.3 của Khoản 8 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận: Lãi suất trong hạn là 42%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử bao gồm tiền lãi phát sinh trong hạn là 11.370.387 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.229.614 đồng và số tiền lãi chậm trả là 1.032.199 đồng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 06/7/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3594395 ngày 06/9/2022 là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Phan Vũ Hoài L có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền: 50.930.828 (Năm mươi triệu, chín trăm ba mươi ngàn, tám trăm hai mươi tám) đồng, trong đó: Nợ gốc là 28.298.628 (Hai mươi tám triệu, hai trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm hai mươi tám) đồng, tiền lãi phát sinh trong hạn là 11.370.387 (Mười một triệu, ba trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi bảy) đồng, tiền lãi quá hạn là 10.229.614 (Mười triệu, hai trăm hai mươi chín ngàn, sáu trăm mười bốn) đồng và số tiền lãi chậm trả là 1.032.199 (Một triệu, không trăm ba mươi hai ngàn, một trăm chín mươi chín) đồng.

    Ông Nguyễn Vũ Hoài L1 có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 06/7/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3594395 ngày 06/9/2022.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.546.541 đồng (Hai triệu, năm trăm bốn mươi sáu ngàn, năm trăm bốn mươi mốt) đồng, ông Phan Vũ Hoài L chịu.

    Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 849.932 đồng (Tám trăm bốn mươi chín ngàn, chín trăm ba mươi hai) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0035523 ngày 23/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Các đương sự có thời hạn kháng cáo đối với bản án là mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Nhất Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 193/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khời kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger