Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 193/2025/HSST

Ngày: 24/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Phi Hồng

Ông Hoài Đức Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hùng Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Minh T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1973, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh (chỗ ở hiện nay ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Đoàn Hồng M và bà Nguyễn Kim T1; Có vợ là Trần Thị X và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  2. Thân Hoàng V (tên gọi khác: Không) Giới tính: Nam; Sinh năm 1976, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Thân Văn H và bà Thân Thị Đ; Có vợ là Thân Thị Ngọc B và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2009); Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Nguyên đơn dân sự: Chi cục thuế khu vực L2- N.

Địa chỉ: Đường N, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Công H1. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 09/5/2019, Đoàn Minh T đã môi giới cho ông Bùi Cảnh H2 cùng vợ là bà Dương Kim P ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 03, tờ bản đồ 06, diện tích 20.832m² thuộc xã V cho bà Trần Uyên P1 với giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.200.000.000 đồng, nhưng giá trị thực tế là 17.634.200.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng bà Trần Uyên P1 sử dụng số tài khoản 1080002999483 (mở tại ngân hàng P4) để chuyển 02 (hai) lần đến số tài khoản 0401001338898 của Đoàn Minh T (là người môi giới thửa đất trên) với tổng số tiền giao dịch 17.634.200.000 đồng. Sau đó T chuyển trả cho ông Bùi Cảnh H2 cùng vợ là bà Dương Kim P số tiền là 13.124.160.000 đồng (mười ba tỷ một trăm hai mươi bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng), T thu lợi số tiền môi giới là 4.510.040.000 đồng (bốn tỷ năm trăm mười triệu không trăm bốn mươi đồng).

2. Vào ngày 22/7/2019, Thân Hoàng V đã môi giới cho ông Lã Xuân P2 cùng vợ là bà Nguyễn Kim L có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 08, tờ bản đồ 67, diện tích 14.530m² thuộc xã L cho bà Trần Uyên P1 với giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.800.000.000 đồng, nhưng giá trị thực tế là 14.454.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng bà Trần Uyên P1 sử dụng số tài khoản 1080002999483 (mở tại ngân hàng V1) để chuyển 02 (hai) lần đến số tài khoản 0401001466143 của Thân Hoàng V (là người môi giới thửa đất) với tổng số tiền giao dịch 14.454.000.000 đồng. Sau đó V chuyển trả cho ông Lã Xuân P2, Nguyễn Kim L số tiền là 12.952.000.000 đồng (mười hai tỷ chín trăm năm mươi hai triệu đồng), V thu lợi từ việc môi giới chuyển nhượng thửa đất trên với số tiền 1.502.000.000 đồng (một tỷ năm trăm lẻ hai triệu đồng).

Tuy nhiên sau khi thu lợi từ tiền môi giới chuyển nhượng quyền sử dụng đất Đoàn Minh T và Thân Hoàng V không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 11340/KL-CCTON ngày 21/9/2023 của Cục Thuế tỉnh Đ. Kết luận đối với hoạt động môi giới:

  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 2, điểm i khoản 1 Điều 25 của Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, thực hiện tạm khấu trừ 10% trên thu nhập và thực hiện quyết toán thuế tại kỳ phát sinh thu nhập.
  • Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp do thu lợi số tiền môi giới của ông Thân Hoàng V và ông Đoàn Minh T theo số thu nhập do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N cung cấp như sau:

Ông Thân Hoàng V: 1.502.000.000 đồng x 10% = 150.200.000 đồng.

Ông Đoàn Minh T: 4.510.040.000 đồng x 10% = 451.004.000 đồng.

Về tang vật thu giữ:

Số tiền 601.220.000 đồng (sáu trăm lẽ một triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó của Đoàn Minh T là 451.020.000 đồng và Thân Hoàng V là 150.200.000 đồng, tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả.

Tại Cáo trạng số 194/CT-VKSNT, ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Đoàn Minh T và Thân Hoàng V về tội “Trốn thuế”, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:

Đoàn Minh T từ 500.000.000đồng đến 550.000.000đồng.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:

Thân Hoàng V từ 100.000.000đồng – 150.000.000đồng

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu số tiền 451.020.000 đồng (Bốn trăm năm mươi mốt triệu, không trăm hai mươi nghìn đồng) do bị cáo Đoàn Minh T tự nguyện giao nộp và số tiền 150.200.000đồng (một trăm năm mươi triệu hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Thân Hoàng V tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả để sung vào ngân sách nhà nước.

Quá trình điều tra còn làm rõ bà Trần Uyên P1 còn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 08 thửa đất trên địa bàn huyện N từ các cá nhân Dương Hồng T2, Mai Văn N, Phan Thị Bảo N1, Bùi Cảnh H2; Dương Kim P3, Thái Thành L1, vợ chồng Lã Xuân P2 - Nguyễn Kim L, vợ chồng Trần Đức T3 – Trịnh Thi Xuân T4, vợ chồng Trần Sơn M1 - Trần Thị Kim Q nhưng giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các Hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá trị giao dịch thực tế để giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp, có dấu hiệu tội trốn thuế. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ. Nội dung thể hiện ngày 09/5/2019, Đoàn Minh T đã môi giới cho ông Bùi Cảnh H2 cùng vợ là bà Dương Kim P ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 03, tờ bản đồ 06, diện tích 20.832m² thuộc xã V cho bà Trần Uyên P1 với giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.200.000.000 đồng, nhưng giá trị thực tế là 17.634.200.000 đồng. T thu lợi số tiền môi giới là 4.510.040.000 đồng (bốn tỷ năm trăm mười triệu không trăm bốn mươi đồng).

Ngày 22/7/2019, Thân Hoàng V đã môi giới cho ông Lã Xuân P2 cùng vợ là bà Nguyễn Kim L có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 08, tờ bản đồ 67, diện tích 14.530m² thuộc xã L cho bà Trần Uyên P1 với giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 3.800.000.000 đồng, nhưng giá trị thực tế là 14.454.000.000 đồng. V thu lợi từ việc môi giới chuyển nhượng thửa đất trên với số tiền 1.502.000.000 đồng (một tỷ năm trăm lẻ hai triệu đồng).

Mặc dù số tiền thu lời từ việc môi giới bất động sản là rất lớn nhưng V và T không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, đóng thuế theo quy định. Từ đó xác định T trốn thuế 451.004.000 đồng, còn V trốn thuế 150.200.000 đồng. Vì vậy có đủ căn cứ và cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Đoàn Minh T và Thân Hoàng V đã phạm vào tội “Trốn Thuế” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong đó số tiền cụ thể mà bị cáo Thân Hoàng V đã không kê khai nộp thuế cho nhà nước là 150.200.000đồng, đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Minh T đã không kê khai nộp thuế cho nhà nước số tiền 451.004.000đồng như vậy đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.

[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của nhà nước, làm giảm thu ngân sách nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế, gây dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi không kê khai nộp thuế hòng trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn trốn tránh nghĩa vụ hòng trục lợi cá nhân nên vẫn cố tình vi phạm. Do vậy, hành vi này cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe các bị cáo sống phải biết đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo cũng đã nộp toàn bộ số tiền thuế phải nộp để khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Về hình phạt đối với các bị cáo: Xét cho các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thời gian tại ngoại các bị cáo nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật không vi phạm. Nên xét chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là đủ tính răn đe, giáo dục.

[4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tuyên tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 601.204.000 đồng (sáu trăm lẽ một triệu, hai trăm lẽ bốn nghìn đồng), trong đó của Đoàn Minh T là 451.004.000đồng và Thân Hoàng V là 150.200.000 đồng, tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Tạm giữ số tiền còn lại 16.000 đồng (Mười sáu nghìn đồng) do Đoàn Minh T giao nộp để thi hành án.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra còn làm rõ bà Trần Uyên P1 còn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 08 thửa đất trên địa bàn huyện N từ các cá nhân Dương Hồng T2, Mai Văn N, Phan Thị Bảo N1, Bùi Cảnh H2; Dương Kim P3; Thái Thành L1, vợ chồng Lã Xuân P2 - Nguyễn Kim L, vợ chồng Trần Đức T3 – Trịnh Thi Xuân T4, vợ chồng Trần Sơn M1 - Trần Thị Kim Q nhưng giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các Hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá trị giao dịch thực tế để giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp, có dấu hiệu tội trốn thuế. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, mức hình phạt, điều luật áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều: 326; 327; 331; 333 Luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  1. Tuyên bố các bị cáo Đoàn Minh T, Thân Hoàng V phạm tội “Trốn thuế”.
  2. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng)

Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Thân Hoàng V 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng).

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo Đoàn Minh T và Thân Hoàng V.

  1. Về xử lý vật chứng căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 601.204.000 đồng (sáu trăm lẽ một triệu, hai trăm lẽ bốn nghìn đồng), trong đó của Đoàn Minh T là 451.004.000 đồng và Thân Hoàng V là 150.200.000 đồng.

Tạm giữ số tiền 16.000đồng (mười sáu nghìn đồng) do Đoàn Minh T giao nộp để thi hành án.

(Số tiền 601.220.000 đồng (sáu trăm lẽ một triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng nghìn đồng), trong đó của Đoàn Minh T là 451.020.000 đồng và Thân Hoàng V là 150.200.000 đồng, theo phiếu Ủy nhiệm chi số 43/UNC ngày 23/6/2025 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường vào số tài khoản 39490103637200000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.)

  1. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Thân Hoàng V, Đoàn Minh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Thi hành án;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về trốn thuế

  • Số bản án: 193/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trốn thuế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger