Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 193/2025/HS-ST

Ngày: 03/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Cửu Long.
  2. Ông Võ Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 424/TB-TA ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 02/02/1984 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ở hiện tại: B, Khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1959; Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Dương Quốc T (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/9/2024 (có mặt).

- Bị hại:

  1. Ông Vũ Minh T1, sinh năm 1984 (vắng mặt);
  2. Bà Võ Thị T2, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Số D, Đường số B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Võ Văn N, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: A đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Anh Phạm Văn T3, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

  1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1960 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Minh C và Trần Xuân T4 (sinh năm 1985) sống chung như vợ chồng và ở cùng nhà với vợ chồng ông Vũ Minh T1 (sinh năm 1984), bà Võ Thị T2 (sinh năm 1986) tại địa chỉ số D, Đường số B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để phụ giúp công việc cho ông T1, bà T2.

Khoảng cuối năm 2021, ông T1 mua một sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 4,5 chỉ, trị giá 15.000.000 đồng tại một tiệm vàng ở P, Kiên Giang (không còn giấy tờ) để đeo lên tượng gỗ đặt trên bàn thờ ở phòng thờ trong nhà. Đến tháng 01/2023, ông T1 phát hiện sợi dây chuyền bị mất nhưng không rõ ai lấy. Khoảng đầu tháng 03/2023, ông T1 mua một sợi dây chuyền vàng 18K khác trọng lượng 2,4 chỉ, trị giá 9.800.000 đồng và tiếp tục đeo lên tượng gỗ đặt tại phòng thờ. Lần này, ông lắp thêm camera trong phòng thờ để giám sát. Ngày 01/4/2023, ông T1 phát hiện sợi dây chuyền vàng treo trên tượng gỗ bị mất nên kiểm tra camera và phát hiện C đã lấy trộm sợi dây chuyền vàng trên. Ông T1 nói chuyện với C thì C thừa nhận việc lấy trộm và đã mua một sợi dây chuyền vàng 610 Công ty trọng lượng 1,41 chỉ, trị giá 5.030.000 đồng để trả lại nên ông T1 đồng ý bỏ qua. Tuy nhiên, sau đó ông T1 nghe được C phủ nhận việc lấy trộm, chỉ nói mang sợi dây chuyển đi rửa và thách thức ông T1 đi trình báo công an. Đồng thời, qua bạn bè, ông T1 nghe nói T4 đe dọa gia đình mình, nên ngày 15/4/2024, ông T1 cùng vợ là bà T2 đến Công an phường B trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Thị Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể: Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 28/3/2023, Nguyễn Thị Minh C lén lấy sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,4 chỉ từ tượng gỗ, bỏ vào túi áo rồi rời đi. Sau đó, C mang sợi dây chuyền đến tiệm V Diễn 2” (địa chỉ số A, B, khu phố C, phường B, TP .) bán cho chủ tiệm là anh Võ Văn N (sinh năm 1995) với giá 3.000.000 đồng. Số tiền này được C chuyển vào tài khoản Ngân hàng P số 0021100013343009 của C, rồi từ tài khoản đó C chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản số 0641000040824 thuộc Ngân hàng V1 của cháu trai là Phạm Văn T3 (sinh năm 1990) để nhờ T3 rút tiền mặt đưa cho mẹ ruột là bà Trần Thị L (sinh năm 1960). Số tiền 1.000.000 đồng còn lại, C tiêu xài cá nhân. C khai thực hiện hành vi phạm tội một mình và không có ai tham gia cùng. Tuy nhiên C chỉ thừa nhận chỉ thực hiện hành vi trộm sợi dây chuyền 01 lần duy nhất vào ngày 28/3/2023 và không lấy trộm sợi dây chuyền vào tháng 01/2023.

Tại Kết luận định giá tài sản số 286-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Đối với sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 4,5 chỉ (không thu giữ được), Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá do không thể thu thập được thông tin, đặc điểm, giá thị trường của tài sản. Đối với sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,4 chỉ, có giá trị 8.776.000 (tám triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 sợi dây chuyền vàng 610 Công ty trọng lượng 1,41 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại sợi dây chuyền trên cho chị Võ Thị T2 là chủ sở hữu.
  • 01 điện thoại di động Oppo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
  • 01 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh sự việc.

Trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Vũ Minh T1 và bà Võ Thị T2 đã được bị cáo C bồi thường, không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSTPTĐ ngày 16/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Thị Minh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo C nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Minh C phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 28/3/2023, tại Nhà số D, Đường số B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Minh C lén lút chiếm đoạt 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,4 chỉ, treo trên tượng gỗ phòng thờ của ông Vũ Minh T1 và bà Võ Thị T2 trị giá 8.776.000 (tám triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị Minh C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh C về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Trần Xuân T4 không thừa nhận việc đe dọa ông T1, bà T2 và ông T1 không có tài liệu, chứng cứ cung cấp để chứng minh hành vi đe dọa của T4 nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trần Xuân T4 là có căn cứ.

Đối với Võ Văn N, do thời gian đã trên 01 năm và quán có số lượng khách vãng lai rất nhiều nên anh không nhớ vào ngày 28/3/2023 có mua sợi dây chuyền vàng của C hay không, hiện anh cũng không nhận dạng được C. Do đó, không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Võ Văn N.

Đối với anh Phạm Văn T3 và bà Trần Thị L không biết số tiền C đưa là tiền do phạm tội mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Phạm Văn T3 và bà Trần Thị L.

[2]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Minh C không có tình tiết tăng nặng.

[3]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Thị Minh C thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hại và phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây mất trật tự an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Tuy nhiên, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo có nhân thân tốt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Vũ Minh T1 và bà Võ Thị T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về vật chứng vụ án:

  • 01 sợi dây chuyền vàng 610 Công ty trọng lượng 1,41 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại sợi dây chuyền trên cho chị Võ Thị T2 là chủ sở hữu. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • 01 điện thoại di động Oppo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bị cáo thừa nhận sau khi bán sợi dây chuyền có sử dụng điện thoại nêu trên để chuyển tiền về quê cho mẹ. Xét thấy đây là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.
  • 01 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh sự việc. Xét thấy đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội nên cần lưu hồ sơ vụ án.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:

    • Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo thu giữ của Nguyễn Thị Minh C.
    • Lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh sự việc.

    (Theo Phiếu nhập kho số NK25/151C ngày 15/01/2025 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 193/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger