TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 6 – 2025
“Về tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hứa Minh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Quang Minh
- Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2025/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đinh Văn H, sinh năm: 1983 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 21/4/2025, biên bản đề nghị vắng mặt ngày 15/5/2025, anh Đinh Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Bé H1 xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận.
Quá trình chung sống, anh H cho rằng tình cảm vợ chồng không còn gắn bó, thường xuyên gây rỗ, cải vả, cuộc sống không còn hạnh phúc, từ đó mâu thuẫn kéo dài mà không có cách khắc phục nên anh và chị H1 mỗi người sống một nơi từ năm 2023 đến nay. Do đó, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bé H1.
- Về con chung: Anh H xác định giữa anh và chị H1 có 02 người con chung là Đinh Thị T, sinh ngày 08/11/2008, hiện đang có chồng và sống riêng; Đinh Hoàng T1, sinh ngày 16/7/2015, hiện sống chung với chị H1. Khi ly hôn, anh thống nhất giao các con chung cho chị H1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh H xác định không có.
- Về nợ chung: Anh H khai rằng giữa anh và chị H1 không có nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.
* Đối với chị Nguyễn Thị Bé H1 vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Tranh chấp giữa anh Đinh Văn H và chị Nguyễn Thị Bé H1 là tranh chấp về ly hôn, nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của chị Nguyễn Thị Bé H1: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia xét xử vụ án, thông qua việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng chị H1 vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H1 theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của anh Đinh Văn H, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Anh Đinh Văn H và chị Nguyễn Thị Bé H1 xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống, do vợ chồng có nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cải vã, gây rỗ, dẫn đến tình cảm sức mẻ, không quan tâm, chăm sóc, cảm thông, chia sẻ lẫn nhau. Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong cuộc sống vợ chồng của anh chị, mỗi người đều có cách sống, cách nghĩ khác nhau. Từ đó, giữa vợ chồng đã nhiều lần cải vã, làm mất lòng tin đối với nhau, mỗi người có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Mặt khác, sau khi xảy ra mâu thuẫn, anh H và chị H1 tự sống riêng 03 năm để anh, chị tự dung hoà nhằm hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng không có hiệu quả. Thời gian này để cho anh, chị có điều kiện thử thách bản thân, suy ngẫm về cuộc sống vợ chồng đã qua nhằm tìm cách tháo gỡ, khắc phục khuyết điểm của mỗi bên để vợ, chồng đoàn tụ nhưng không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn và cũng không quan tâm, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Bên cạnh đó, anh H cương quyết ly hôn, nếu không được xem xét thì anh cũng không thể quay lại chung sống với chị H1, vì tình cảm không còn và tương lai, hạnh phúc cũng không có. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh H được ly hôn chị H1 là có căn cứ.
[3] Về con chung: Xét thấy cháu Đinh Thị T mặc dù đã có chồng và sống riêng nhưng vẫn chưa đủ 18 tuổi; cháu Đinh Hoàng T1 hiện nay sống chung với chị H1, do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời nguyện vọng anh H cũng thống nhất giao các cháu cho chị H1 tiếp tục nuôi. Vì vậy, giao cháu T và cháu T1 cho chị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, chị H1 không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Anh H xác định không có nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Anh H khai rằng giữa anh và chị H1 không có nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Văn H về việc ly hôn chị Nguyễn Thị Bé H1.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đinh Thị T, sinh ngày 08/11/2008, cháu Đinh Hoàng T1, sinh ngày 16/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Bé H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Đinh Văn H không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, anh Đinh Văn H phải chịu 300.000đ. Ngày 22 tháng 4 năm 2025, anh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000₫ theo biên lai số: 5521 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Anh Đinh Văn H và chị Nguyễn Thị Bé H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hứa Minh Hải |
Bản án số 193/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 193/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của anh H về việc ly hôn chị H1.
