Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 193/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn giữa bà N và

ông A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Thục Hiền
  2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 876/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/01/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2025 và Thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa số 876/2025/TB-TA ngày 18/02/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N; Sinh năm 1982;
  2. Nơi cư trú: Số X đường Y, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A ; Sinh năm 1975;
  4. Nơi cư trú: Số X đường Y, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;

    (Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà N và ông Nguyễn Tuấn A chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 130, quyển số 01, đăng ký ngày 27/12/2004.

Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa bà N và ông A bất đồng quan điểm sống, bất đồng về suy nghĩ và cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống vợ chồng. Vào đầu năm 2024, bà N đã từng nộp đơn đến Tòa án nhân dân Quận 8 để yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A. Sau khi Tòa án thụ lý đã tiến hành động viên bà N rút đơn để hàn gắn tình cảm gia đình. Do đó, bà N đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 710/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2024. Tuy nhiên, dù đã cố gắng tự hòa giải, hàn gắn gia đình nhưng mâu thuẫn giữa bà N và ông A ngày càng trở nên trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tiếng nói chung, không chia sẻ được các vấn đề trong cuộc sống gia đình nên cả hai không thể tiếp tục chung sống không thể tiếp tục chung sống. Nhận thấy cả hai đã không còn tình cảm, bà N nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn ông A.

Về con chung: Bà N xác định giữa bà N và ông A có hai con chung tên:

  • Nguyễn Tường D sinh ngày 29/11/2005 (đã thành niên);
  • Nguyễn Phương B sinh ngày 10/04/2011.

Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương B, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N tự xác định giữa bà N và ông A không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử, Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Ông A đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông A theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – Bà Trần Thị N có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của Bà Trần Thị N thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn là ông Nguyễn Tuấn A có cư trú tại Quận 8, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Bà N và ông Nguyễn Tuấn A kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 130, quyển số 01, đăng ký ngày 27/12/2004, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà N, bà N trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa bà N và ông A bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi. Dù đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Bà N đã từng nộp đơn khởi kiện yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông A vào năm 2024, sau khi Tòa án thụ lý, qua phân tích, động viên Bà N đã rút đơn để hàn gắn tình cảm gia đình và Tòa án nhân dân Quận 8 đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 710/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2024. Tuy nhiên, Bà N trình bày hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cả hai đã không còn chung sống như vợ chồng. Nên bà N yêu cầu được ly hôn. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà N là có căn cứ cần giải quyết.

Xét thấy, ông A đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông A vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện ông A không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa bà N và ông A không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ cần chấp nhận vì phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà N xác định giữa bà N và ông A có hai con chung tên: Nguyễn Tường D sinh ngày 29/11/2005 (đã thành niên); Nguyễn Phương B sinh ngày 10/04/2011.

Đối với con chung D đã thành niên, Bà N không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Đối với con chung B, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, không yêu cầu ông A cấp dưỡng.

Ngày 26/12/2024, trẻ B có văn bản thể hiện ý kiến muốn được sống chung với mẹ.

Xét yêu cầu của Bà N là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình mặt khác cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung và đảm bảo quyền lợi của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà N, giao trẻ Nguyễn Phương Vy cho Bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi Bà N và ông A ly hôn. Ghi nhận việc Bà N không có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông A cho đến khi có yêu cầu.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N tự khai giữa bà N và ông A không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của ông A về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;

Áp dụng:

- Các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A;

2. Về nuôi con chung: Có hai con chung tên:

  • Nguyễn Tường D sinh ngày 29/11/2005, hiện đã thành niên, đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  • Nguyễn Phương B sinh ngày 10/04/2011.

Giao trẻ B, cho Bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ghi nhận việc Bà N không có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông A cho đến khi có yêu cầu.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông A có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị N phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0030758 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS Q.8;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - VKSND Q.8;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lương Duy Minh Chính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 193/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Tuấn A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger