Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/HS-ST

Ngày 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân X, ông Nghiêm Đình Ch.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 190/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1993; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022.

    - Tiền án, tiền sự: Không

    - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị H sinh năm 1996 (đã ly hôn); có 1 con sinh năm 2013.

    - Tiền án, tiền sự: Không

    - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/6/2024, B gọi điện thoại rủ T2 đi mua ma tuý về sử dụng. Sau đó B đi xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 99G1 – 467.32 đón T2 đến nhà nghỉ T4; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, T2 lên phòng trước còn B đứng ở cửa nhà nghỉ để tìm người bán ma tuý. Bộ gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi “Có ma tuý đá, ngựa không bán cho tôi 400.000 đồng”. Người đàn ông trả lời: “Có”. Bộ nói: “Đợi một lát sẽ có người mang tiền xuống mua”. Do trước đó B và T2 đã thống nhất Bộ ứng tiền ra để mua ma túy nên Bộ đưa cho T2 400.000 đồng. T2 cầm tiền đưa cho người đàn ông bán ma túy rồi cầm lấy 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa tính thể màu trắng và hai viên nén hình tròn màu hồng và đi lên phòng 201 của nhà nghỉ T4 để cùng B sử dụng. Khi B và T2 đang sử dụng ma tuý thì lực lượng Công an huyện Y kiểm tra, bắt quả tang.

Tiến hành thu giữ: Trên mặt chiếc kệ trong phòng có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng; 02 miếng giấy bạc có bám dính chất màu đen trên bề mặt, được niêm phong trong phong bì thư; 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu C2, trên nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa trong đó một ống màu xanh, một ống hút màu tím; 01 bật lửa ga màu tím. Bộ, T2 khai nhận là ma túy mua để sử dụng cùng dụng cụ sử dụng chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1459/KLGĐMT-PC09 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1063 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.
  • 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,0803 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.
  • Chất màu đen bám dính trên 02 (hai) miếng giấy bạc đều dài 20cm và rộng 01cm là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine; không đủ để xác định khối lượng.

Methamphetamine là chất ma túy được quy địnnh tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Bản Cáo trạng số 186/CT-VKS-YP ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Ngọc T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Ngọc T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • -Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt: Nguyễn Văn B từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.

    Xử phạt: Nguyễn Ngọc T2 từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.

  • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; đều có HKTT: Chi Long, L, Y, Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu; sim điện thoại số 0972.105.xxx và số 0977.221.872, vỏ chai nhựa C2, trên nắp chai có 2 ống hút nhựa, 01 bật lửa ga màu tím; biển kiểm soát số 99G1 – 615.55.
  • + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 pro max màu vàng gold; 01 điện thoại 7 plus màu vàng gold; 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, xe có số khung: RLHJA3925LY55394, số máy: JA39E-2058366.
  • Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo B, bị cáo T2.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 14/6/2024, tại nhà nghỉ T4; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp Công an xã L kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn B và Nguyễn Ngọc T2 đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 0,1866 gam ma túy Methamphetamine còn lại của B và T2 tàng trữ với mục đích để sử dụng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo mua chất ma túy để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân các bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo B có thời gian phục vụ trong quân ngũ, bị cáo T2 có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể và vai trò ngang nhau trong vụ án. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; đều có HKTT: Chi Long, L, Y, Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu; sim điện thoại số 0972.105.xxx và số 0977.221.872, vỏ chai nhựa C2, trên nắp chai có 2 ống hút nhựa, 01 bật lửa ga màu tím là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 pro max màu vàng gold, 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng gold; 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, xe có số khung: RLHJA3925LY55394, số máy: JA39E-2058366 là vật liên quan trực tiếp đến tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
  • Đối với biển kiểm soát số 99G1 – 615.55 là của anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 2001; trú tại: Khu Y, phường K, thành phố B. Anh B1 bị rơi mất biển kiểm soát này và đã được cấp lại. Anh B1 không đề nghị được xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát số 99G1 – 615.55.
  • Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo B, bị cáo T2.
  • [3] Những vấn đề khác:

    Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho B và T2 nhưng B và T2 không biết tên, tuổi cũng như địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

    Đối với anh Nguyễn Ngọc N là chủ nhà nghỉ T4, quá trình cho T2, Bộ thuê phòng tại nhà nghỉ T4, anh N thấy T2, Bộ có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã trình báo đến Công an huyện Y, do vậy Cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở đối với anh N là phù hợp.

    Đối với hành vi gắn biển số không đúng với giấy đăng ký xe của Nguyễn Văn B, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã có văn bản gửi Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Y đề nghị xử lý vi phạm hành chính đối với Bộ là phù hợp.

  • [4] Về án phí: Bị cáo Bộ và bị cáo T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Nguyễn Ngọc T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T2 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2024.
    • Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn B 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc T2 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; đều có HKTT: Chi Long, L, Y, Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu; Sim điện thoại số 0972.105.xxx và số 0977.221.872; vỏ chai nhựa C2, trên nắp chai có 2 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga màu tím; biển kiểm soát: 99G1-615.55 là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 pro max màu vàng gold số Imei 353906108442451; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh số khung: RLHJA3925LY55394, số máy: JA39E-205836601; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng gold, số IMEI: 359151074259795.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

    Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo B, bị cáo T2

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo B và bị cáo T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Trại tạm giam CA tỉnh
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 193/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Văn Thanh - TTMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger