Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/HS-ST

Ngày: 09-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thành Viên.
  2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm: 1985, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 140/3Đ ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T1 và bà Đỗ Thị Thùy T2 (đã chết); chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 08/02/2024; (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng P; địa chỉ: C P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 07/02/2024, Lê Văn T chạy xe mô tô biển số 51Y5-9953 đến trước nhà G đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì dùng điện thoại di động của T số 0967452494 gọi vào số điện thoại 0966.937.xxx của một nam thanh niên tên là “H” (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 400.000 đồng Heroine thì H đồng ý. Khoảng 05 phút sau có một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) đi bộ đến đưa cho T 02 gói nylon chứa Heroine, và nhận từ T 400.000 đồng. Sau khi nhận ma tuý, T cầm trên tay và chạy xe đi mua ống kim tiêm tại một tiệm bán thuốc tây gần đó (T không nhớ tên, địa chỉ tiệm thuốc tây). Sau khi mua ống kim tiêm xong, T lấy một ít Heroine trong 01 gói nylon bỏ vào ống kim tiêm, phần Heroine còn lại trong gói nylon, T cất giấu vào ví da cùng với gói nylon chứa Heroine gói bằng một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng. T để ví da trong túi quần phía sau bên phải đang mặc, rồi chạy xe đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi T đang cầm ống kim tiêm bên trong có chứa Heroine trên tay phải và chạy xe đến trước nhà B P, Phường A, quận G thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận G phối hợp Công an P1, quận G kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Căn cứ Kết luận giám định số 2450/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K (PC09) Công an Thành phố H kết luận:

  • Bột màu trắng ký hiệu (m1) cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,1296 g, loại Heroin.
  • Bột màu trắng trong một gói nylon (m2) cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,0759 g, loại Heroin.
  • Bột màu trắng trong 01 ống kim tiêm (m3) cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,0302 g, loại Heroin.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T và hình dấu Công an Phường 14, quận G, bên trong có: 01 gói nylon chứa chất bộ màu trắng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (m1); 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (m2); 01 ống kim tiêm có chứa chất bột màu trắng (m3).
  • 01 điện thoại di động hiệu V, gắn sim số: 0967452494, Lê Văn T sử dụng liên lạc mua ma tuý.
  • 01 xe gắn máy biển số 51Y5-9953, số khung: VLMD011002HV004987; số máy: VTT1P52FMH064987.9953, qua xác minh do bà Nguyễn Thị Hồng P đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại Công an xã P xác định hiện nay bà Nguyễn Thị Hồng P không có mặt tại địa phương và đã chuyển đi nơi khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã tiến hành đăng báo tìm chủ xe máy trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Lê Văn T khai mua lại chiếc xe trên của chị phụ nữ (không nhớ tên, địa chỉ) chỉ giao nhận giấy đăng ký xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 07/02/2024, T sử dụng xe trên đi mua ma tuý thì bị bắt giữ.

Tại bản Cáo trạng số 211/CT-VKS-GV, ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
  • Áp dụng vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
  • Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.
  • Tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án: 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng.
  • Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu V, gắn sim số: 0967452494, Lê Văn T sử dụng liên lạc mua ma tuý.
  • Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu thời hạn 6 tháng đối 01 xe gắn máy biển số 51Y5-9953, quá thời hạn trên mà không ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào ngày 07/02/2024, tại trước số nhà B P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,2357g, loại Heroin, mục đích để sử dụng. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 211/CT-VKS-GV, ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: không có.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T và hình dấu Công an Phường 14, quận G, bên trong có: 01 gói nylon chứa chất bộ màu trắng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (m1); 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (m2); 01 ống kim tiêm có chứa chất bột màu trắng (m3), qua giám định là ma túy, loại Heroin, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu V, gắn sim số: 0967452494 thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe gắn máy biển số 51Y5-9953, số khung: VLMD011002HV004987; số máy: VTT1P52FMH064987.9953, qua xác minh do bà Nguyễn Thị Hồng P đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại Công an xã P xác định hiện nay bà Nguyễn Thị Hồng P không có mặt tại địa phương và đã chuyển đi nơi khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã tiến hành đăng báo tìm chủ xe máy trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Lê Văn T khai mua lại chiếc xe trên của chị phụ nữ (không nhớ tên, địa chỉ) chỉ giao nhận giấy đăng ký xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Do bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, xe không có nguồn gốc rõ ràng nên Hội đồng xét xử giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 6 tháng, nếu không ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G tiếp tục xác minh, điều tra, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/02/2024.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn T và hình dấu Công an Phường 14, quận G, bên trong có: 01 gói nylon chứa chất bộ màu trắng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (m1); 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (m2); 01 ống kim tiêm có chứa chất bột màu trắng (m3).
  • Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu V, gắn sim số: 0967452494.
  • Giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 tháng đối với: 01 xe gắn máy biển số 51Y5-9953, số khung: VLMD011002HV004987; số máy: VTT1P52FMH064987.9953; nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án: 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng. (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 178/PNK ngày 31/7/2024 của Công an quận G)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • TAND TP. HCM;
  • VKSND TP. HCM;
  • Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • Chi cục THADS Q. Gò Vấp;
  • Công an Q. Gò Vấp;
  • Bị cáo;
  • Người liên quan;
  • Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 193/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chât ma túy" theo điêm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đối, bố sung năm 2017.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger