|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 193/2024/HS-PT Ngày: 30/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu Hà. |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Long. |
| Bà Lê Thị Phương Thanh. |
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 161/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Khương Văn S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo: Khương Văn S - sinh năm 1981 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...] (do Cơ quan CSĐT - Công an huyện H); Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khương Văn T - sinh năm 1958; con bà Phạm Thị Ý - sinh năm 1960; vợ: Bùi Thị Thu L - sinh năm 1989; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Đình C - Thuộc Công ty L4 - Chi nhánh số 01 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
Địa chỉ: phố P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người bị hại: ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người đại diện theo ủy quyền của ông L1: anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 1987. Có mặt.
Trú tại: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 2006. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1958. Vắng mặt.
Trú tại: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h30' ngày 18/9/2022, Khương Văn S có Giấy phép lái xe hạng A1 (do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/6/2004, có giá trị không thời hạn) điều khiển xe mô tô BKS 36B4-961.20 đi từ nhà ở tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ra cây xăng trên đường Q, thuộc thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để đổ xăng. Sau khi đổ xăng xong, S điều khiển xe mô tô chạy trên tuyến đường Tỉnh lộ 522B hướng xã H - thị xã B. Khi đi đến đoạn đường khu dân cư mới thuộc thôn G, xã H, huyện H thì cùng lúc này có xe máy điện BKS 36MĐ1-03098 do ông Nguyễn Hữu L1 (sinh năm 1963, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển đi ngược chiều. S điều khiển xe mô tô BKS 36B4-961.20 khi tránh xe đi ngược chiều đã không giảm tốc độ và không đi về bên phải theo chiều xe của mình chạy, dẫn đến mặt trước bên trái ốp đèn pha, mặt trước trên bên trái ốp nhựa đầu xe, mặt trước ngoài để định vị gương chiếu hậu bên trái xe mô tô BKS 36B4-961.20 do S điều khiển va chạm với mặt trước tay phanh bên trái, mặt trước dưới tay nắm bên trái xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 do ông L1 điều khiển, làm ông L1 và S và 02 xe ngã xuống đường nhựa. Ông L1 và S đều bị thương, được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu, hai phương tiện bị hư hỏng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết tại hiện trường.
* Khám nghiệm hiện trường: hiện trường là đường Tỉnh lộ 522B, có 02 chiều xe chạy được rải nhựa rộng 7,3m. Trong đó, phần đường được rải nhựa mới bằng phẳng nằm bên trái theo chiều Quốc lộ B đi thị xã B rộng 4,25m; phần đường nhựa gồ ghề nằm bên trái rộng 3,05m; Lề đường bên trái rộng 1,1m, bên phải có vỉa hè. Điểm mốc là cột mốc Km 7+800 của Tỉnh lộ 522B. Lấy mép đường bên trái của đường Tỉnh lộ 522B theo hướng Quốc lộ B đi thị xã B làm mép chuẩn. Tiến hành khám nghiệm xác định tại hiện trường có 07 vết được đánh số từ 01 đến 07 thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường.
* Xem xét dấu vết trên thân thể: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Khương Văn Soái ngày 18/9/2022 tại Bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Thanh Hóa, có các vết thương sau:
- Vùng trán giữa có khối sưng nề, bầm tím, rớm máu, kích thước (7x7)cm;
- Chảy máu mũi phải, bầm tím 02 mắt;
- Vùng sau cổ sưng nề nhẹ, ấn đau, không chảy máu;
- Vùng trên cung mày bên trái lún xương, biến dạng.
Kết quả chụp CL VT sọ não:
- Hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, khí tụ nội sọ;
- Phù não mô thùy trán hai bên;
- Vỡ xương trán và nền sọ trước;
- Vỡ xương hàm trên bên trái.
Tại biên bản làm việc ngày 18/9/2022 tại Bệnh viện đa khoa ACA thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, ông Nguyễn Hữu L1 bị các vết thương sau: chảy máu vùng đầu, trán trái biến dạng, cổ bàn chân trái dập nát lộ xương vỡ nham nhở chảy nhiều máu.
* Kết quả trưng cầu giám định: Tại kết luận tổn thương cơ thể trên người sống số 567/KLTTCT-PYTH ngày 15/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Khương Văn S tại thời điểm giám định là 77%.
Tại Kết luận tổn thương cơ thể trên người sống số 557/KLTTCT-PYTH ngày 15/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: tỷ lệ % tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Hữu L1 tại thời điểm giám định là 63%.
Tại Kết luận giám định số 3477/KL-KTHS ngày 11/10/2022 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: mặt trước tay phanh bên trái, mặt trước dưới tay nắm bên trái xe máy điện BKS 36M1-030.98 (ảnh 5 đến 8) với mặt trước bên trái ốp đèn pha, mặt trước trên bên trái ốp nhựa đầu xe, mặt trước ngoài để định vị gương chiếu hậu bên trái xe ô tô BKS 36B4-961.20 (ảnh 17 đến 20).
- Tại thời điểm va chạm, hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau.
- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm tương ứng vùng mảnh vỡ (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường; không đủ cơ sở xác định cụ thể vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trên phần đường nào.
- Tại thời điểm va chạm xe mô tô BKS 36B4-961.20 đang chuyển động. Không đủ cơ sở xác định tại thời điểm va chạm xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 đang chuyển động hay đứng im.
- Ngoài va chạm với xe mô tô BKS 36B4-961.20, không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 với người hay phương tiện khác. Ngoài va chạm với xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 36B4-961.20 với phương tiện khác; Vết tỳ trượt bề mặt bám dính chất màu nâu (dạng tổ chức cơ thể người) tại mặt và má trái lốp trước, cạnh bên trái vành trước, tương ứng hàng số “70/90-17”, mặt trước ngoài cụm điều chỉnh phanh trước và mặt trước ngoài càng trước bên trái xe mô tô BKS 36B4-961.20 (ảnh 25, 26, 27) phù hợp do va chạm với người ông Nguyễn Hữu L1 tạo nên.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS 36B4-961.20 và xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 vào thời điểm xảy ra tai nạn.
Tại Kết luận giám định số 5640/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của V - Bộ C1 kết luận: không xác định được điểm va chạm đầu tiên trên đường giữa xe máy điện biển số 36MĐ1-030.98 và xe mô tô BKS 36B4-961.20 thuộc phần đường bên phải của xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 hay phần đường bên phải của xe mô tô BKS 36B4-961.20.
Tại Kết luận giám định số 269/2022/TTPY-HP ngày 05/10/2022 Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: mẫu máu của Khương Văn S do cơ quan trưng cầu giám định pháp y về hóa pháp:
- Không có cồn Methanol.
- Có cồn Ethanol, nồng độ 91,9mg/100ml máu.
- Không phát hiện thấy các chất ma túy.
Đối với mẫu máu của ông Nguyễn Hữu L1: do bệnh nhân bị thương tích nặng, hôn mê, mất máu cấp phải chuyển tuyến gấp, nên Cơ quan điều tra không thu được mẫu máu.
Tại Kết luận giám định số 4327/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:
- Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 USB gửi giám định.
- Mô tả một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - thể hiện trong phụ lục.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 62/KLĐG ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: tổng giá trị thay thế mới, sửa chữa các bộ phận bị hư hỏng (thiệt hại) của xe máy điện nhãn hiệu ESPERO BKS 36MĐ1-030.98 là 1.700.000đ. Tuy nhiên, tài sản xe máy điện nhãn hiệu ESPERO BKS 36MĐ1-030.98 trước khi xảy ra tai nạn đã qua sử dụng (đăng ký tháng 01/2016) nên giá trị còn lại của tài sản trên là 40%, thành tiền là 1.700.000₫ x 40% = 680.000₫ (sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KLĐG ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: tổng giá trị thay thế mới, sửa chữa các bộ phận bị hư hỏng (thiệt hại) của xe máy nhãn hiệu SYM ELEGANT BKS 36B4-961.20 là 3.730.000đ. Tuy nhiên, tài sản xe máy nhãn hiệu SYM ELEGANT BKS 36B4-961.20 trước khi xảy ra tai nạn đã qua sử dụng (đăng ký tháng 02/2016) nên giá trị còn lại của tài sản trên là 40%, thành tiền là 3.730.000₫ x 40% = 1.492.000đ (một triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Về vật chứng của vụ án: sau khi khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã điều tra làm rõ và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại phương tiện xe mô tô BKS 36B4-961.20 và xe máy điện BKS 36MĐ1-030.98 cho chủ sở hữu.
Đối với 01 giấy phép lái xe số R338866 mang tên Khương Văn S và 01 USB chứa 01 tệp video, hiện đang tạm giữ đưa vào hồ sơ vụ án chờ xử lý.
Về dân sự: ông Nguyễn Hữu L1 yêu cầu Khương Văn S phải bồi thường tổng số tiền 307.736.976₫ (Ba trăm linh bảy triệu, bảy trăm ba sáu nghìn, chín trăm bảy sáu đồng), S chưa thực hiện việc bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 48 BLHS. Các Điều 584, 585, 590, 351 và 357 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 6, các điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 6 Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Khương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Khương Văn S 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Khương Văn S phải bồi thường cho ông Nguyễn Hữu L1 các khoản tiền chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, thiệt hại và tiền bù đắp tổn thất tinh thần, tổng cộng là 231.971.000₫ (Hai trăm ba mốt triệu, chín trăm bảy mốt nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hữu L1 có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bị cáo phải bồi thường, nếu bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 13/5/2024 bị cáo Khương Văn S kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.
Ngày 21/5/2024, anh Nguyễn Hữu B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
* Tạ phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tư cách tham gia tố tụng của anh Nguyễn Hữu B: anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người chăm sóc ông Nguyễn Hữu L1 trong thời gian điều trị thương tích, anh Bàn là người không liên quan gì đến vụ án. Mối quan hệ giữa anh B (người chăm sóc) và ông L1 (người bị hại) được thiết lập sau khi vụ án xảy ra, hoàn toàn độc lập với vụ án. Bản án HSST số 34/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xác định tư cách tham gia tố tụng của anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, anh B không có quyền kháng cáo trong vụ án này.
- Đối với kháng cáo của bị cáo Khương Văn S: sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Khương Văn S, giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt.
Sửa bản án HSST số 34/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo, giảm cho bị cáo từ 04 đến 06 tháng tù. Đồng thời không xác định tư cách người tham gia tố tụng của anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Về bồi thường dân sự: đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện theo ủy quyền của bị hại tại phiên tòa phúc thẩm. Giành quyền khởi kiện dân sự về khoản bồi thường thiệt hại sau điều trị tai nạn khi có đủ các chứng cứ chứng minh cho bị hại.
- Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: đề nghị HĐXX xem xét mức độ lỗi và các nguyên nhân, yếu tố khách quan khác dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vụ án xảy ra ở đường tỉnh lộ 522B đang được thi công sửa chữa, đường gồ ghề, khó đi (được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường), ông L1 là người cao tuổi nên khi phát hiện chướng ngại vật đã dừng xe đột ngột, gây khó khăn cho bị cáo trong việc xử lý tình huống. Sau khi tai nạn xảy ra, bản thân bị cáo cũng bị thương tích mất 77% sức khỏe, ảnh hưởng đến trí não, một mắt không còn nhìn thấy, một mắt còn 5/10, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con còn nhỏ. Mặc dù hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhưng bị cáo đã nhận thức được việc làm của mình là sai, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng). Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 50, khoản 1 Điều 54 BLHS quyết định mức hình phạt đầu khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người bị hại: thống nhất về phần bồi thường dân sự hai bên đã thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm. Không đồng ý với ý kiến của Luật sư và đại diện VKS về đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm theo đúng quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: vào khoảng 16h30' ngày 18/9/2022, bị cáo có Giấy phép lái xe hạng A1 (do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp) điều khiển xe mô tô BKS 36B4-961.20 đi từ nhà ra cây xăng trên đường Q để đổ xăng. Sau khi đổ xăng, bị cáo điều khiển xe chạy trên tuyến Tỉnh lộ 522b hướng xã H - thị xã B. Khi đi đến đoạn đường khu dân cư mới thuộc thôn G, xã H, huyện H thì thấy xe máy điện BKS 36MĐ1-03098 do ông Nguyễn Hữu L1 điều khiển đi ngược chiều. Bị cáo điều khiển xe khi tránh xe đi ngược chiều đã không giảm tốc độ, không đi về bên phải theo chiều xe của mình, dẫn đến va chạm với xe máy điện do ông L1 điều khiển, làm ông L1 và bị cáo đều bị thương. Trước khi đi đổ xăng thì buổi trưa bị cáo có sử dụng bia và có nồng độ cồn trong cơ thể vượt quá mức quy định, điều khiển xe gây tai nạn. Hậu quả, ông Nguyễn Hữu L1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 63%; bị cáo bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 77%; hai phương tiện là xe máy điện BKS 36MĐ1-03098 và xe mô tô BKS 36B4 - 961.20 bị hư hỏng. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, do bản thân bị thương nặng mất 77% sức khỏe và do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo chưa bồi thường được cho người bị hại. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000₫ (tám mươi triệu đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Với hành vi nêu trên, ngày 08/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
HĐXX xét thấy, nguyên nhân xảy ra tai nạn là do bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, khi tránh xe đi ngược chiều đã không giảm tốc độ, không đi về bên phải theo chiều xe của mình, dẫn đến va chạm với xe máy điện do ông Nguyễn Hữu L1 điều khiển, làm thiệt hại về sức khỏe của ông L1 và hư hỏng 02 xe. Hành vi phạm tội của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ về điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn và tránh xe đi ngược chiều, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh. Tòa án cấp sơ thẩm đãxem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, xử phạt bị cáo 42 tháng tù.
Tuy nhiên, xét thấy trong vụ án này bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; tại giai đoạn xét xử phúc thẩm đã nhận thức được việc làm của mình là sai, đã cùng gia đình bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 80.000.000₫ (trong đó có 30.000.000₫ được nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung và 50.000.000₫ bồi thường trực tiếp tại phiên tòa). Ngoài ra, bị cáo còn xuất trình “Đơn xin xác nhận” về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ đã già yếu, các con còn nhỏ; bị cáo là lao động chính; quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, hưởng ứng đầy đủ các phong trào ủng hộ của địa phương (có xác nhận của UBND xã H); Quyết định về việc trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội số 1276/QĐ-UBND ngày 10/4/2023 đối với bị cáo Khương Văn S; Giấy xác nhận người khuyết tật; Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến đối với ông Khương Văn S1 và bà Nguyễn Thị L3 là ông bà nội bị cáo; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh T đối với ông Khương Văn S1 vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chống Pháp xâm lược. Mặt khác, khi tai nạn xảy ra bản thân bị cáo cũng bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 77%, một mắt không còn nhìn thấy và một mắt còn 5/10, đã làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của bị cáo, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, thể hiện tính nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật. Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Về bồi thường dân sự: sau khi án sơ thẩm xử, người bị hại là ông Nguyễn Hữu L1 không có kháng cáo, bị cáo không kháng cáo về phần dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người đại diện theo ủy quyền của ông L1 có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét tăng mức bồi thường đối với công người chăm sóc ông L1 từ mức 200.000₫ lên 400.000đ/01 ngày = 20.400.000đ, tòa án cấp sơ thẩm mới tuyên buộc bị cáo phải bồi thường 10.200.000đ, yêu cầu bồi thường thêm 10.200.000đ và tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần lên 10 tháng lương cơ sở (từ 30 tháng lên 40 tháng) = 93.600.000đ, tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo phải bồi thường 54.000.000₫, yêu cầu bồi thường thêm 39.600.000₫. Tổng số tiền anh B yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm là 49.800.000₫ (Bốn mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện thống nhất bồi thường thêm cho ông L1 theo yêu cầu của gia đình ông L1 số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) ngoài số tiền Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên và đã được thực hiện xong. Ngày 06/8/2024, bị cáo nộp 30.000.000₫ bồi thường cho ông L1 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung theo biên lai thu tiền số 0003338. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và gia đình người bị hại về phần bồi thường dân sự như sau: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Hữu L1 tổng số tiền 281.971.000₫ (hai trăm tám mốt triệu, chín trăm bảy mốt nghìn đồng), đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), còn phải bồi thường 201.971.000₫ (hai trăm linh một triệu, chín trăm bảy mốt nghìn đồng).
Đối với yêu cầu bị cáo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho ông Nguyễn Hữu L1 và công người chăm sóc, do ông L1 không còn khả năng lao động: HĐXX xét thấy, do hiện nay chưa có đủ tài liệu chứng cứ xác định ông L1 không còn khả năng lao động, chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, nên dành quyền khởi kiện dân sự cho ông Nguyễn Hữu L1 đối với bị cáo bằng vụ án dân sự khác khi có đủ tài liệu, chứng cứ xác định.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hữu L1 được nhận số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) do bị cáo đã nộp bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (theo biên lai thu tiền số 0003338 ngày 06/8/2024).
[2.2] Về kháng cáo của anh Nguyễn Hữu B:
Xét thấy, anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người chăm sóc ông Nguyễn Hữu L1 trong thời gian điều trị thương tích, mối quan hệ giữa anh Nguyễn Hữu B (người chăm sóc) và bị hại ông Nguyễn Hữu L1 được thiết lập sau khi vụ án đã xảy ra, hoàn toàn độc lập với vụ án. Vì vậy, anh Nguyễn Hữu B không liên quan gì đến vụ án. Tuy nhiên, tại Bản án HSST số 34/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã xác định tư cách tham gia tố tụng của anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định pháp luật, anh B không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, vì vậy HĐXX không xem xét kháng cáo của anh B.
Tuy Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót về việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng không làm thay đổi bản chất của vụ án, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Ngoài ra, bị cáo là người khuyết tật (có Giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nên cần xem xét áp dụng quy định của pháp luật để miễn án phí cho bị cáo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: bị cáo là người khuyết tật nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Khương Văn S.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo Khương Văn S và phần xác định tư cách người tham gia tố tụng đối với anh Nguyễn Hữu B.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Các Điều 584, 585, 590, 351 và 357 Bộ luật dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Khương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Khương Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Không xác định anh Nguyễn Hữu Bàn L2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về bồi thường dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và gia đình bị hại về bồi thường dân sự như sau: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Hữu L1 tổng số tiền 281.971.000đ (hai trăm tám mốt triệu, chín trăm bảy mốt nghìn đồng), đã bồi thường 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), còn phải bồi thường 201.971.000₫ (hai trăm linh một triệu, chín trăm bảy mốt nghìn đồng).
Dành quyền khởi kiện dân sự cho ông Nguyễn Hữu L1 yêu cầu bị cáo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho ông Nguyễn Hữu L1 và công người chăm sóc bằng vụ án dân sự khác khi có đủ tài liệu, chứng cứ xác định ông L1 không còn khả năng lao động.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hữu L1 được nhận số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) do bị cáo đã nộp bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (theo biên lai thu tiền số 0003338 ngày 06/8/2024).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hữu L1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền phải bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 193/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 193/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khương Văn S “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
