Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/DS-PT

Ngày 17 - 7 - 2024.

Về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚCCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Xuân Quang

Ông Trần Phương Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 155/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 431/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 482/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim P, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Đường N, tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Giấy uỷ quyền ngày 26/02/2022): Ông Lê Đắc H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Ngô Hoàng D, sinh năm1995.

Địa chỉ: Ấp G, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn (Hợp đồng uỷ quyền ngày 16/10/2023): Bà Lê Thị Xuân T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà L (Giấy uỷ quyền ngày 18/10/2023): Ông Lê Đắc H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Ông Lê Cao D1, sinh năm 1968.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, bản tự khai và các lời khai bổ sung tại Toà án, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Căn cứ theo hợp đồng đặt cọc ngày 04/6/2021 giữa ông Ngô Hoàng D và ông Trương Công C đối với 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C nên ngày 04/6/2021, bà Hồ Thị Kim P, bà Nguyễn Thị L cùng nhau thoả thuận nhận chuyển nhượng diện tích đất 7.500m² thuộc thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C của ông Ngô Hoàng D. Ngày 04/6/2021 các bên ký hợp đồng đặt cọc, bà P đặt cọc cho ông Ngô Hoàng D 300.000.000 đồng. Đến ngày 29/7/2021, bà Hồ Thị Kim P ký hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với ông Ngô Hoàng D, đặt cọc thêm cho ông D 50.000.000 đồng, ghi vào hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021 đặt cọc số tiền 350.000.000 đồng và thoả thuận huỷ bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 04/6/2021. Bà L không ký hợp đồng đặt cọc vì bà L không mang theo căn cước công dân. Theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/7/2021, bà Hồ Thị Kim P giao số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng cho ông D để bà L và bà P nhận chuyển nhượng 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C. Giá chuyển nhượng đất là 2.775.000.000 đồng. Thoả thuận đến ngày 30/8/2021 thì các bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà P, bà L thanh toán cho ông Ngô Hoàng Danh s tiền còn lại là 2.425.000.000 đồng. Các bên thoả thuận nội dung về việc đặt cọc như sau: Trường hợp bên A (ông D) không cung cấp giấy tờ liên quan đến thửa đất hay đất bị tranh chấp hoặc đổi ý không chịu bán thì phải bồi thường gấp 2 lần số tiền mà Bên B (bà P) đã đặt cọc. Trường hợp bên B không đúng hẹn theo thoả thuận đã đặt cọc thì sẽ mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc cho bên A (ông D); trường hợp thửa đất bị quy hoạch thì bên A (ông D) phải hoàn trả số tiền đã đặt cọc cho bên B (bà P). Ngày 08/8/2021, bà Nguyễn Thị L đặt cọc thêm cho ông Danh số tiền 250.000.000 đồng và ghi nội dung giao tiền đặt cọc này vào hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021, các thoả thuận khác theo hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/7/2021.

Tuy nhiên, đến ngày 30/8/2021, các bên không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được do tình hình dịch Covid 19. Ngày 01/9/2021, các bên thoả thuận: bà L đặt cọc thêm cho ông Danh số tiền là 400.000.000 đồng, hẹn đến ngày 10/9/2021 đặt cọc thêm 600.000.000 đồng. Trong đó, các bên có thoả thuận là nếu không có tiền xuống thêm thì ông D sẽ hoàn trả lại 400.000.000 đồng đặt cọc ngày 01/9/2021. Nội dung giao tiền vào thoả thuận ngày 01/9/2021 thì ông D ghi vào sau hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021 và ký tên. Ngày 10/9/2021 bà L không đặt cọc thêm cho ông Danh số tiền 600.000.000 đồng theo thoả thuận được vì vùng bà L ở thuộc vùng đỏ. Ngoài ra sau ngày 01/9/2021, các bên không có thoả thuận thêm nội dung nào khác. Ngày 22/9/2021, bà P xuống gặp ông D để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông D không đồng ý. Sau đó các bên có nhắn tin qua lại qua zalo nhưng không thống nhất được thời gian ký kết hợp đồng cũng như thoả thuận về số tiền đã đặt cọc nên đưa vụ việc ra Toà án.

Khi đặt cọc cho ông D để nhận chuyển nhượng đất thì bà L và bà P thoả thuận cổ phần mỗi người bà L 70% và bà P 30%. Trong số tiền 1.000.000.000 đồng đặt cọc cho ông D thì số tiền của chị P là 350.000.000 đồng giao ngày 29/7/2021, của bà L là 650.000.000 đồng giao các lần còn lại. Đối với số tiền đã đặt cọc cho ông D thì bà L, bà P thống nhất đề nghị Toà án giải quyết theo số tiền từng người đã bỏ ra đã đặt cọc cho ông D.

Số tiền 350.000.000 đồng bà P đặt cọc cho ông D là tài sản riêng của bà, không phải tài sản chung của bà và ông Lê Cao D1 nên bà đề nghị Toà án giải quyết số tiền này cho bà theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Ngô Hoàng D phải trả lại 350.000.000 đồng tiền cọc và chịu phạt cọc là 350.000.000 đồng.

- Tại bản tự khai và các lời khai bổ sung tại Toà án bị đơn ông Ngô Hoàng D và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Ngày 04/6/2021, ông D và bà L, bà P thoả thuận ông D chuyển nhượng cho bà L, bà P 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C. Các thửa đất này ông mới đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trương Công C vào ngày 04/6/2021. Bà L, bà P đặt cọc cho ông 300.000.000 đồng và các bên có lập hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với đất ngày 04/6/2021, bà P là người ký hợp đồng, bà L không ký. Đến ngày 29/7/2021, bà P đặt cọc thêm cho ông 50.000.000 đồng nên các bên ký lại hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với đất ghi nội dung là nhận cọc 350.000.000 đồng. Nội dung trong hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021, ông D thống nhất với trình bày của nguyên đơn.

Ngày 30/8/2021, ông D và bà L thoả thuận với nhau ngày 01/9/2021 các bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà L phải thanh toán cho ông Danh số tiền là 1.000.000.000 đồng, nhưng đến ngày 01/9/2021 bà L chỉ đặt cọc thêm cho ông D 400.000.000 đồng, thoả thuận đến ngày 10/9/2021 đặt cọc thêm 600.000.000 đồng. Ông D cũng thống nhất với nguyên đơn về nội dung thoả thuận giữa các bên vào ngày 01/9/2021. Ngày 31/8/2021 ông D nhắn tin cho bà L là đến ngày 10/9/2021 thì các bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà L không trả lời. Từ sau ngày 10/9/2021 thì các bên nhiều lần thoả thuận với nhau về thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà P, bà L không đủ tiền dẫn đến quá thời hạn nên ông C huỷ hợp đồng đặt cọc với ông D dẫn đến bà L, bà P và ông D cũng không thực hiện được hợp đồng đặt cọc. Sau đó các bên không có thoả thuận khác về thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như số tiền đã đặt cọc.

Khi nhận tiền cọc thì ông D nhận của bà L 650.000.000 đồng và nhận tiền cọc của bà P 350.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị L thì ông D không chấp nhận toàn bộ vì ông D đã tạo điều kiện cho bà L, bà P nhiều lần thanh toán tiền để các bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà L, bà P không có tiền để công chứng hợp đồng nên phải mất số tiền đã đặt cọc.

- Tại đơn yêu cầu độc lập, các bản tự khai và các lời khai bổ sung tại Toà án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L và đại diện theo uỷ quyền của bà L trình bày:

Bà L thống nhất với lời trình bày của bà Hồ Thị Kim P về nội dung các hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/6/2021 và ngày 29/7/2021 giữa ông Ngô Hoàng D và bà Hồ Thị Kim P. Bà cũng thống nhất với ông D và bà P là bà cùng với bà P thoả thuận đặt cọc để chuyển nhượng 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C của ông Ngô Hoàng D mà bà P đứng tên trong hợp đồng đặt cọc. Số tiền bà bỏ ra đặt cọc cho ông Ngô Hoàng D là 650.000.000 đồng. Đối với số tiền đã đặt cọc cho ông D thì bà L và bà P thống nhất đề nghị Toà án giải quyết theo số tiền từng người đã bỏ ra đã đặt cọc cho ông D.

Bà L yêu cầu ông Ngô Hoàng D phải trả lại 650.000.000 đồng tiền cọc và phải chịu phạt cọc là 650.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Cao D1: Vắng mặt nên không có lời khai.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 180, điểm b khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 131, 407, 408, 328 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim P về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

    Buộc ông Ngô Hoàng D phải thanh toán cho bà Hồ Thị Kim P 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Kim P về buộc ông Ngô Hoàng D phải chịu phạt cọc số tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

    Buộc ông Ngô Hoàng D phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị L 650.000.000 (S trăm năm mươi triệu) đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về buộc ông Ngô Hoàng D phải chịu phạt cọc số tiền 650.000.000 (Sáu trăm năm mươi triệu) đồng.

  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Tách và dành quyền khởi kiện cho ông Lê Cao D1 về số tiền 350.000.000 đồng bà P đặt cọc cho ông Ngô Hoàng D.
  5. Về chi phí tố tụng: Bà P phải chịu 4.000.000 đồng chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bà P đã nộp xong.
  6. Về án phí:

    Ông Ngô Hoàng D phải nộp 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Hồ Thị Kim P phải nộp 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng và 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng tạm ứng án phí mà bà P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001041 ngày 18/02/2022 và số 00001445 ngày 15/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ thành án phí. Hoàn trả cho bà P 18.300.000 (Mười tám triệu ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí.

    Bà Nguyễn Thị L phải nộp 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 25.500.000 (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000372 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ thành án phí. Bà L phải nộp thêm 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm ngàn) đồng án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Kháng cáo:

Ngày 04/02/2024, bị đơn ông Ngô Hoàng D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc ông trả lại 01 tỷ tiền cọc cho bà L, bà P và giải quyết công bằng về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, về trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa bên A và bên B.

Phần phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện việc thụ lý, phân công Thẩm phán làm chủ tọa giải quyết vụ án, đảm bảo quyền kháng cáo. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, vô tư, khách quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; đồng thời, thủ tục phiên tòa được thực hiện đầy đủ và đúng quy định.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo: Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên thể hiện trong bài phát biểu đã được nêu công khai tại phiên tòa. Tóm lại, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Ngô Hoàng D làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L cho rằng anh Ngô Hoàng D đã không thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng diện tích đất 7.500m² thuộc 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C theo hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021 nên phải trả lại tiền cọc và chịu phạt cọc.

Bị đơn anh Ngô Hoàng D không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì bà L và bà P không có tiền để thanh toán số tiền còn lại để nhận chuyển nhượng đất nên phải mất số tiền đã đặt cọc.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của của bị đơn:

Các đương sự thống nhất: Bà L và bà P nhận chuyển nhượng diện tích đất 7.500m² thuộc 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C từ ông Ngô Hoàng D theo hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/7/2021.

Theo nội dung thoả thuận đến ngày 30/8/2021 các bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu bên A (ông D) không cung cấp giấy tờ liên quan đến thửa đất hay đất bị tranh chấp hoặc đổi ý không chịu bán thì phải bồi thường gấp 2 lần số tiền mà Bên B (bà P) đã đặt cọc. Trường hợp bên B không đúng hẹn theo thoả thuận đã đặt cọc thì sẽ mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc cho bên A (ông D); trường hợp thửa đất bị quy hoạch thì bên A (ông D) phải hoàn trả số tiền bên B (bà P) đã đặt cọc. Nhưng đến ngày 30/8/2021 thì các bên không công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà có thoả thuận mới, với nội dung “Ngày 01/9/2021 ông D đã nhận thêm số tiền cọc là 400.000.000 đồng hẹn đến ngày 10/9/2021 sẽ đặt cọc thêm số tiền 600.000.000 đồng”, đây là thoả thuận đặt cọc mới, các bên không thoả thuận gì về việc mất cọc cũng như phạt cọc, trong thoả thuận mới này thì các bên cũng thoả thuận “...nếu ngày 10/9/2021 bà L không đặt cọc thêm 600.000.000 đồng thì ông D sẽ trả lại số tiền 400.000.000 đồng”. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm nhận định ông D phải trả lại số tiền 400.000.000 đồng cho bà L theo như cam kết là phù hợp.

Về mặt pháp lý, khi các bên thoả thuận đặt cọc thì 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C thì ông Ngô Hoàng D không phải là chủ sử dụng đất, mà ông D chỉ là người ký hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên của ông Trương Công C là chủ sử dụng. Sau ngày 10/9/2021, ông C và ông D đã huỷ hợp đồng đặt cọc giữa ông D và ông C nên đối tượng của hợp đồng đặt cọc là 02 thửa đất số 166, 274 tờ bản đồ 26 xã S, huyện C không còn nên các bên không thể tiếp tục hợp đồng đặt cọc. Đồng thời ông D và bà P, bà L không có thoả thuận khác để tiếp tục hợp đồng đặt cọc. Do đó, hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/7/2021 vô hiệu, các bên không thoả thuận nào khác nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, cụ thể: ông Ngô Hoàng D phải trả lại cho bà Hồ Thị Kim P 350.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị L 650.000.000 đồng.

Như đã xác định, hợp đồng đặt cọc ngày 29/7/2021 là vô hiệu theo quy định của pháp luật, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu phạt cọc của bà Nguyễn Thị L, bà Hồ Thị Kim P.

Từ những dẫn chứng nêu trên, cho thấy bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Kim P và một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L. Buộc bị đơn ông Ngô Hoàng D phải thanh toán lại số tiền đã nhận cọc của bà P, bà L là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của bị đơn.

[5] Về án phí:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp được tính trừ vào án phí phải chịu.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của bị đơn ông Ngô Hoàng D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ vào các Điều 131, 328, 407, 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim P về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

    Buộc ông Ngô Hoàng D phải thanh toán cho bà Hồ Thị Kim P 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Kim P về buộc ông Ngô Hoàng D phải chịu phạt cọc số tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

    Buộc ông Ngô Hoàng D phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị L 650.000.000 (S trăm năm mươi triệu) đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về buộc ông Ngô Hoàng D phải chịu phạt cọc số tiền 650.000.000 (Sáu trăm năm mươi triệu) đồng.

  3. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hết các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Tách và dành quyền khởi kiện cho ông Lê Cao D1 về số tiền 350.000.000 đồng bà P đặt cọc cho ông Ngô Hoàng D.
  5. Về chi phí tố tụng: Bà Hồ Thị Kim P phải chịu 4.000.000 đồng chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bà P đã nộp xong.
  6. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:

      Ông Ngô Hoàng D phải nộp 42.000.000 (Bốn mươi hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

      Bà Hồ Thị Kim P phải nộp 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng và 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng tạm ứng án phí mà bà P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001041 ngày 18/02/2022 và số 00001445 ngày 15/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ thành án phí. Còn lại, hoàn trả cho bà P 18.300.000 (Mười tám triệu ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí.

      Bà Nguyễn Thị L phải nộp 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 25.500.000 (Hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000372 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ thành án phí. Bà L phải nộp thêm 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm ngàn) đồng án phí.

    • - Án phí dân sự Phúc thẩm: Ông Ngô Hoàng D phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011928 ngày 06/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ thành án phí. Ông D đã nộp xong án phí phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Vũ Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/DS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 193/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn kháng cáo không đồng ý trả cọc.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger