TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1925/2024/DS-ST
Ngày: 20/5/2024
V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1202/2023/TLST– DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1598/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 2282/2023/QĐH-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Â, sinh năm 1977.
Trụ sở: 266-268 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1)
Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T.
Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt), có đơn xin xét xử vắng mặt.
(Theo giấy ủy quyền số 1727/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/6/2023)
Địa chỉ: A Đường A, Tổ E, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2023 và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:
Ngày 18/05/2018, ông Nguyễn Hồng  có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Hồng Â, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ JCB Jspeedy Cre Gold, số thẻ 526830-2563, Lãi suất áp dụng 2.6%.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Hồng  đã thực hiện các giao dịch với Tổng số tiền là 107.052.798 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Nguyễn Hồng  đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 96.033.057 đồng. Kể từ ngày 22/6/2021, ông Nguyễn Hồng  không thành toán bất cứ khoản tiền nào cho ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Hồng  vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Hồng  phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đồng thời khởi kiện khách hàng. Tính đến ngày 20/5/2024, ông Nguyễn Hồng  còn nợ các khoản sau:
- + Dư nợ gốc: 29.287.396 đồng;
- + Lãi quá hạn 35.827.634 đồng
Tổng cộng: 65.115.030 (Bằng chữ: Sáu mươi lăm triệu một trăm mười lăm nghìn không trăm ba mươi) đồng.
Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
- Buộc ông Nguyễn Hồng  phải trả ngay cho Ngân hàng Tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/5/2024 là 65.115.030 (Bằng chữ: Sáu mươi lăm triệu một trăm mười lăm nghìn không trăm ba mươi) đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 29.287.396 đồng đồng; Lãi quá hạn 35.827.634 đồng
- Buộc ông Nguyễn Hồng  có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Hồng  trả nợ, không yêu cầu ai khác.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng Â, đã được toà án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản nên căn cứ Khoản 3 Điều 26, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn ông Nguyễn Hồng  đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến toà, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định ngày 18/05/2018, ông Nguyễn Hồng  có ký với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh T1 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ JCB Jspeedy Cre Gold, số thẻ 526830-2563, Lãi suất áp dụng 2.6%.
Quá trình thực hiện Hợp đồng ông Nguyễn Hồng  đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 96.033.057 đồng. Kể từ ngày 22/6/2021, ông Nguyễn Hồng  phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, đã ký, không thanh toán nợ lãi cho Ngân hàng bất kỳ khoản nào dù đã đôn đốc và nhắc nhở nhiều. Vì vậy, kể ngày 23/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do ông Nguyễn Hồng  vi phạm thỏa thuận với Ngân hàng, không trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng yêu cầu bà thanh toán toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 20/5/2024 là 65.115.030 (Bằng chữ: Sáu mươi lăm triệu một trăm mười lăm nghìn không trăm ba mươi) đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 29.287.396 đồng đồng; Lãi quá hạn 35.827.634 đồng.
Xét thấy, hình thức và nội dung thoả thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Ngoài ra, Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 để xác định lãi, lãi suất”.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S buộc ông Nguyễn Hồng  phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/5/2024 là: 65.115.030 (Bằng chữ: Sáu mươi lăm triệu một trăm mười lăm nghìn không trăm ba mươi) đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 29.287.396 đồng đồng; Lãi quá hạn 35.827.634 đồng.
Ngoài ra ông Nguyễn Hồng  còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/5/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng đã ký.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Hồng  phải chịu tiền án phí. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Luật phí và lệ phí năm 2015;
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
Buộc ông Nguyễn Hồng  có trách nhiệm trả cho Ngân hàng S tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/5/2024 là: 65.115.030 (Bằng chữ: Sáu mươi lăm triệu một trăm mười lăm nghìn không trăm ba mươi) đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 29.287.396 đồng đồng; Lãi quá hạn 35.827.634 đồng.
Ông Nguyễn Hồng  còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 21/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.255.752 (ba triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm năm hai ) đồng ông Nguyễn Hồng  phải chịu, ông Nguyễn Hồng  chưa nộp tiền án phí.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại tiền tạm ứng án phí 1.299.488 (một triệu hai trăm chín chín nghìn bốn trăm tám mươi tám) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0005103 ngày 27/9/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 1925/2024/DS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 1925/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
