|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 192/2024/HSST
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Phạm Thị Ngọc.
Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 20224 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Trọng T, sinh năm: 1994, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 2, đường T, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: Tổ A, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1963; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Người bị hại: Em Nguyễn Anh D, sinh ngày: 23/9/2015; Địa chỉ: Tổ C, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
Người giám hộ của bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Tổ C, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoài M, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Số A, đường H, ấp E, xã B, huyện C, T hphố Hồ Chí Minh.(xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/01/2024, Nguyễn Văn T2 T đi bộ đên nhà của cháu Nguyễn Anh D, sinh ngày 23/9/2015, tại Tổ C, Ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để rủ D đi chơi đá bóng. T đứng trước cửa nhà của cháu D và nhìn thấy D đang cầm điện thoại trên tay để chơi game nên đã nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của cháu D để mang đi bán lấy tiền tiêu xài. T tiếp cận điện thoại bằng cách kêu D cho mượn điện thoại để gọi điện cho bạn mượn số tiền 50.000 đồng mua nước cho cả hai cùng uống. Lúc này, cháu D đồng ý và đi từ trong nhà ra tay cầm 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Redmi 13C định đưa cho T mượn thì bất ngờ T dùng tay giật lấy điện thoại giả vờ bấm gọi điện thoại, vừa nghe vừa nhanh chóng bỏ chạy bộ tẩu thoát, cháu Dương đ theo, T chạy vào đường hẻm bỏ trốn. Khoảng 10 phút sau, T quay ra không thấy cháu D nên mang điện thoại di động vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại "Mẫn" của ông Lê Hoài M tại địa chỉ số A đường H, ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố được số tiền 1.700.000 đồng rồi bỏ trốn đến địa bàn Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 13/01/2024, ông Nguyễn Văn C làm đơn tố cáo Nguyễn Văn Trọng T về hành vi cướp giật tài sản như trên.
Tại Cơ quan điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn Trọng T có kết quả dương tính.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐDGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Redmi 13C (đã qua sử dụng), có giá trị 2.700.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 Biên nhận cầm đồ ngày 06/01/2024 của Dịch vụ Cầm đồ “Mẫn”, loại tài sản cầm cố Redmi 13C, số tiền 1.700.000 đồng.
- - 01 USB mày xanh, hiệu Kingston bên trong lưu giữ 01 video ghi nhận hình ảnh đối tượng cướp giật tài sản ngày 06/01/2024 tại ấp D, xã B, huyện C có tên: 060124.MP4 (kích cỡ 60.8MB).
- - 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Redmi 13C, số IMEI 1: 868329067733265; IMEI 2: 868329067733273. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn C.
Về dân sự:
Bị hại cháu Nguyễn Anh D và ông Nguyễn Văn C đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoài M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.700.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 192/CT- VKS ngày 10 tháng 7 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Trọng T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn Trọng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận sau khi cướp giật chiếc điện thoại hiệu Redmi 13C của cháu D thì bị cáo mang đến cửa hàng điện thoại “Mẫn” của ông Lê Hoài M cầm cố được 1.700.000 đồng. Nay bị cáo tự nguyện nộp lại Ngân sách Nhà nước.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Trọng T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Trọng T từ 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù đến 04(bốn) năm tù.
Về dân sự: Bị hại và người giám hộ của bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Ông Lê Hoài M1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.700.000 đồng mà bị cáo cầm điện thoại, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
- * Bị cáo Nguyễn Văn Trọng T tự bào chữa: Không.
- * Lời nói sau cùng của Bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố của Cơ quan tiến hành tố tụng; và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Trọng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn Trọng T đã có hành vi giật chiếc điện thoại di động màu xanh, hiệu Redmi 13C của em Nguyễn Anh D và nhanh chống bỏ chạy. Theo kết luận định giá, tài sản bị cáo chiếm đoạt của em D có giá trị là 2.700.000 đồng. Bị cáo đã có hành vi cướp giật tài sản của em Nguyễn Anh D, tính đến ngày 06/01/2024, em D chưa đủ 16 tuổi nên thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi.
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Trọng T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền thỏa mãn tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý Bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[7] Xét vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Redmi 13C, số IMEI 1: 868329067733265; IMEI 2: 868329067733273 đã được trả lại cho người giám hộ của bị hại là phù hợp nên ghi nhận.
Đối với: 01 Biên nhận cầm đồ ngày 06/01/2024 của Dịch vụ Cầm đồ “Mẫn”, loại tài sản cầm cố Redmi 13C, số tiền 1.700.000 đồng và 01 USB mày xanh, hiệu Kingston bên trong lưu giữ 01 video ghi nhận hình ảnh đối tượng cướp giật tài sản ngày 06/01/2024 tại ấp D, xã B, huyện C có tên: 060124.MP4 (kích cỡ 60.8MB) là chứng cứ của vụ án nên cần lưu hồ sơ vụ án.
[8] Về dân sự:
Bị hại và người giám hộ của bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi nghĩa, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoài M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.700.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 1.700.000 đồng do thu lợi bất chính, xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo nên ghi nhận.
[9] Xét bị cáo phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người giám hộ của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Trọng T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Trọng T 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024.
- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo nộp lại Ngân sách Nhà nước số tiền 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng do thu lợi bất chính.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Trọng T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Riêng bị hại, người giám hộ của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 192/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (criminal case)
- Số bản án: 192/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trọng T - Cướp giật tài sản
