|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 192/2023/HS- ST Ngày: 28/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quảng Văn Minh.
- Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2023/TLSI- HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn B. Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1975, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn N (Đã chết); Con bà: Lò Thị Đ (Đã chết); Năm 1995 Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Trần Thị T, sinh năm 1978. Từ năm 2017 đến nay không chung sống như vợ chồng với chị Trần Thị T nữa. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án: Tiền sự: Không. Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29/5/2023, Lò Văn B đi bộ từ nhà ở bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để đi tìm mua ma túy về sử dụng khi đi cầm theo số tiền 300.000 đồng. Khi đến khu vực bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ), người đàn ông hỏi “Có mua Heroine không? Bị cáo trả lời “ Có, bán cho 300.000 đồng”. Bị cáo lấy ra 300.000 đồng đưa cho người đàn ông. Sau đó người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Bị cáo 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng bên trong có 06 gói Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng các gói đều được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm gói H và cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về. Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi Bị cáo đang đi trên đường thuộc bản Xôm, xã T, huyện Đ thì gặp tổ công tác Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phối hợp với Tổ 5, kế hoạch 1266 Công an tỉnh Đ đang làm nhiệm vụ. Qua kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên phải của Bị cáo đang mặc có 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói đều được hơ lửa hàn kín bên trong có 06 gói Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng các gói đều được hơ lửa hàn kín, nghi là H. Tổ công tác mời người chứng kiến đến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, sau đó đưa Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 29/5/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lò Văn B như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,86 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 845/KL- KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu các cục bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Lò Văn B gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là: 0,63 gam.
Tại bản cáo trạng số: 126/CT-VKSHĐB ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Bị cáo: Từ 01 năm 07 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,63 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 29/5/2023 tại khu vực bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Lò Văn B đã có hành vi cất giấu trái phép 0,86 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra tại xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được đi học đến lớp 5/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Từ năm 1995 đến năm 2017 Bị cáo chung sống như vợ chồng với Trần Thị T, đến năm 2017 thì ly thân, sinh năm 1978 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1997, đến năm 2017 thì ly thân. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt. Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Ngày 29/5/2023 Bị cáo bị Tổ công tác Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phối hợp với Tổ 5, kế hoạch 1266 Công an tỉnh Đ bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX thấy có đủ cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên đối với mức hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị từ 01 năm 07 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù đối với Bị cáo, HĐXX thấy rằng có thể xử mức hình phạt cao hơn mức đề nghị, mới mang tính chất răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
0,63 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc T1, khoảng 35 tuổi (Bị cáo không biết tên đầy đủ, địa chỉ ở đâu) Cơ quan điều tra công an huyện Đ và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/5/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
- Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 0,63 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
6
Bản án số 192/2023/HS- ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 192/2023/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lò Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Bị cáo: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/5/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
