|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 192/2023/HS-ST
Ngày 26 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đào Diệp Tâm – phó chủ tịch Hội LHPN thành phố Cẩm Phả và bà Nguyễn Thị Hiền – giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2023/TLST - HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Ngô Thành Đ; tên gọi khác: không; sinh ngày 29/10/1998, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tố N và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 11/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt.
- Họ và tên: Ngô Thành D; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/02/2006, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: học sinh lớp 12A3 trường THPT H1; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tố N và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 11/7/2023, tạm giam đến ngày 25/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, từ ngày 07/12/2023 đến nay được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
*Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Ngô Thành D: anh Ngô Tố N (bố đẻ bị cáo); trú tại: tổ E, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
* Bị hại:
- - bà Cao Thị T; sinh năm 1947; nơi cư trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bà Phạm Thị C; sinh năm 1958; nơi cư trú: tổ A, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- * Người làm chứng: chị Nguyễn Thu T1, sinh năm 1993; chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982; bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1957; bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1942 ( đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền ăn tiêu, Ngô Thành Đ gọi điện thoại bằng ứng dụng Meserger FaceBook cho em ruột là Ngô Thành D (17 tuổi) rủ đi tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Đ sẽ lái xe mô tô Sirius màu đỏ đen không lắp biển kiểm soát (BKS) để tìm kiếm và áp sát bị hại, còn D ngồi sau giật tài sản để chia nhau ăn tiêu. D đồng ý. Đ và D đã thực hiện 02 vụ như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 07/7/2023, Đ lái xe mô tô chở D đến khu vực nhà văn hóa khu H2, phường C, thành phố C, thì phát hiện bà Cao Thị T (76 tuổi) đang cầm túi xách màu vàng bằng vải in chữ “ngân hàng S” đi bộ phía trước. Đ lái xe áp sát bà T, rồi bảo D “giật đi”. Cùng lúc D giật được túi xách. Đ lái xe bỏ chạy đến khu vực gầm băng tải đường bao biển thuộc tổ C, khu N, phường C thì dừng lại kiểm tra túi, thấy bên trong có: 01 chiếc ví mầu đen, 805.000 đồng, 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen, kèm theo thẻ căn cước công dân (CCCD), thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), giấy chứng nhận hưu trí mang trên bà T. Đ chia cho D 405.000 đồng và giữ lại 400.000 đồng rồi đã ăn tiêu hết. Chiếc túi và điện thoại, Đ vứt ở vỉa hè gần đó. Đ chở D đến vỉa hè khu bãi tắm TTP thuộc tổ E, khu F, phường C, thành phố C thì vứt chiếc ví mầu đen cùng giấy tờ. Đến 17 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thị B đi bộ qua khu vực trên nhặt được chiếc ví mầu đen, đã đem về đưa cho chồng là ông Phạm Văn T4. Ông T4 kiểm tra bên trong có CCCD, BHYT, giấy chứng nhận hưu trí thì biết được địa chỉ lên đã mang đến trả cho bà T.
Vụ thứ hai: khoảng 15 giờ ngày 08/7/2023, Đ gọi điện thoại bằng M1 cho D và đón D ở phường C bằng xe mô tô trên. Sau khi ăn uống, Đ lái xe chở D đến khu vực gần trường tiểu học C1 thuộc tổ A, khu H, phường C, thành phố C tìm người sơ hở để cướp giật. Thấy bà Phạm Thị C (65 tuổi) đang đi xe đạp, ở giọ xe phía trước để 01 túi nilon màu đỏ, Đ bám theo sau, rồi bất ngờ áp sát để D giật được túi. Cả hai đi đến vị trí gầm cầu cũ, Đ kiểm tra thấy trong túi có 4.700.000 đồng, 01 điện thoại Nokia màu đen và nhiều giấy tờ mang tên bà C. Đ chia cho D 2.200.000 đồng, còn lại Đ giữ. Chiếc túi nilon cùng giấy tờ và chiếc điện thoại Đ vứt tại đó. Sau khi nhận được trình báo của bà C và bà T, ngày 11/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đ và D, thu giữ vật chứng: thu giữ của Đ: 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen không lắp BKS; 01 chiếc kính màu trắng; 20.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu xanh lắp sim; thu giữ của D: 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng; 01 chiếc áo khoác màu đỏ ADIDAS; 01 chiếc quần đùi vải màu trắng; 01 chiếc túi đeo bằng vải màu ghi; 01 chiếc dép bằng cao su màu đen có ký tự X màu trắng; 01 chiếc ví giả da JS; 600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Redmi K30 5G màu tím lắp sim.
Bà T giao nộp: 01 chiếc ví giả da mầu đen kích thước (16x4x9)cm
Các tài sản khác gồm: 01 điện thoại Nokia màu đen của bà T; 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 thẻ hưu trí, 01 sổ lương hưu của bà C - Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy. Do vậy, Hội đồng định giá thường xuyên định sản tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C không có cơ sở để xác định giá trị của các tài sản trên.
Quá trình điều tra, Ngô Thành Đ và Ngô Thành D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai: số tiền thu giữ là tiền cướp giật của bà Phạm Thị C. Đ còn khai, chiếc xe mô tô mô tô Sirius màu đỏ đen không lắp BKS mua của người không quen biết với giá 7.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ.
Về trách nhiệm dân sự: Ngô Thành Đ và Ngô Thành D đã tác động để gia đình bồi thường cho bà Cao Thị T 2.000.000 đồng và bà Phạm Thị C 4.700.000 đồng. Bà T và bà C không có yêu cầu gì khác. Còn 620.000 đồng bị thu giữ, đề nghị trả lại cho bố ruột của Đ và D là ông Ngô Tố N.
Đối với chiếc xe mô tô Sirius màu đỏ đen, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tách ra làm rõ xử lý sau. 01 ví giả da mầu đen của bà Cao Thị T; 01 chiếc kính màu trắng thu giữ của Ngô Thành Đ; 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, 01 chiếc áo khoác màu đỏ ADIDAS, 01 chiếc quần đùi vải màu trắng, 01 chiếc túi đeo bằng vải màu ghi, 01 chiếc dép bằng cao su màu đen có ký tự X màu trắng, 01 chiếc ví giả da JS thu giữ của Ngô Thành D; Đ và D đề nghị được nhận lại tài sản và không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Các vật chứng khác còn lại, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 172/CT-VKSCP ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố các bị cáo Ngô Thành Đ và Ngô Thành D về tội: “Cướp giật tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; ( khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91; Điều 101 BLHS áp dụng đối với bị cáo D) BLHS xử phạt bị cáo Ngô Thành Đ từ 36 tháng tù đến 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023; Ngô Thành D từ 18 tháng đến 21 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường C, thành phố C giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình, nhà trường nơi bị cáo đang theo học có trách nhiệm phối hợp với UBND phường C giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại Redmi K30 5G màu tím.Trả lại cho ông Ngô Tố N số tiền 620.000đ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo không ý kiến gì, thống nhất luận tội của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, không sai. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo D xin được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với sơ đồ, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản trích xuất hình ảnh video; kết luận định giá tài sản và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 07, 08/7/2023, tại tổ A, khu H, phường C và tổ A, khu H, phường C, thành phố C, Ngô Thành Đ và Ngô Thành D đã dùng xe mô tô Sirius cướp giật 01 chiếc túi xách bên trong có 01 điện thoại Nokia, 01 ví giả da, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 giấy chứng nhận hưu trí, 805.000 đồng của bà Cao Thị T và cướp giật 01 túi nilon bên trong có 01 điện thoại Nokia, 01 thẻ hưu trí, 01 số lương hưu, 4.700.000 đồng của bà Phạm Thị C. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.505.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Đ, D đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Như vậy, nội dung Cáo trạng số 172/CT-VKSCP ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Ngô Thành Đ, Ngô Thành D về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
- “1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:...
- d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;"
[3] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, đồng phạm: hành vi phạm tội của bị cáo Đ, bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội ở địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
Về vai trò đồng phạm trong vụ án: thấy các bị cáo Đ, D phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ từ trước mà chỉ bột phát, thống nhất giữa 02 bị cáo thấy người nào sơ hở thì chiếm đoạt tài sản. Trong đó bị cáo Đ có vai trò đầu vụ, trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo D để đi phạm tội, nên phải chịu hình phạt cao hơn.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Ngô Thành Đ và Ngô Thành D đã thực hiện 02 lần cướp giật tài sản; phạm tội đối với bà Cao Thị T - 76 tuổi nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Đ và D là anh em ruột, đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ông bà nội của các bị cáo (ông Ngô Doãn B1 và bà Nguyễn Thị H) là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo D còn được đại diện Trường THPT H1 nhận xét bị cáo trong quá trình học tập đã chấp hành tốt nội quy của T5, không có vi phạm gì và đề nghị cho bị cáo được chấp hành án ngoài tại cộng đồng để được tiếp tục đi học hoàn thành chương trình cuối cấp; khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Do bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có vai trò đồng phạm trong vụ án, Nhà trường đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài cộng đồng để cho bị cáo được tiếp tục học tập, mặt khác bị cáo khi phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên nên áp khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 03 tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho gia đình, Nhà trường và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đảm bảo việc cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, cũng là cho bị cáo cơ hội tiếp tục đi học hoàn thành chương trình cuối cấp THPT, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, bị cáo D là người chưa thành niên niên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị Ngô Thành Đ và Ngô Thành D đã tác động để gia đình bồi thường cho bà Cao Thị T 2.000.000 đồng và bà Phạm Thị C 4.700.000 đồng. Bà T và bà C không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 620.000đ thu giữ của Đ và D là tiền do phạm tội mà có. Tuy nhiên, ông Ngô Tố N đã thay mặt các bị cáo bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm gì khác, tại phiên tòa các bị cáo đều xin trả lại cho bố bị cáo, nên cần tuyên trả lại số tiền 620.000đ cho ông N; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại Redmi K30 5G màu tím thu giữ của Đ và D sử dụng liên lạc vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với chiếc xe mô tô Sirius thu của Đ chưa xác định được nguồn gốc nên nhập kho vật chứng của Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[8] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo bản án: các bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; ( áp dụng khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 đối với bị cáo D) của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: các bị cáo Ngô Thành Đ, Ngô Thành D phạm tội “Cướp giật tài sản".
Xử phạt: bị cáo Ngô Thành Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị giữ 11/7/2023.
Xử phạt: bị cáo Ngô Thành D 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án 26/12/2023.
Giao bị cáo Ngô Thành D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên bố: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đối với bị cáo Ngô Thành Đ.
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11, màu xanh, kèm 01 sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 89840, 48000, 33331, 7627 (thu giữ của Đ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K30 5G màu tím, kèm 01 sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 8984, 4800, 00084, 91903 (thu giữ của D). Cả 02 điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ, không kiểm tra được chất lượng bên trong. Trả lại cho ông Ngô Tố N số tiền 620.000đ theo biên bản giao nhận tài sản số 85/2023/BBGNTS-CQCSĐTCATPCP ngày 13/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước C2.
(Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 29/BB-THA ngày 27/ 11/2023 giữa Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: buộc các bị cáo Ngô Thành Đ, Ngô Thành D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo (Đại diện hợp pháp của bị cáo D)có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thái |
Bản án số 192/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh về cướp giật tài sản
- Số bản án: 192/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thành D phạm tội Cướp tài sản
