Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NGJỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
  2. Bà Trần Thị Long

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 162/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trương Đức T. Sinh năm 1979 tại tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: đường M, khu phố A, quận G, Tp.HCM; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn Đ (chết) và bà: Dương Thị D (chết); Vợ: Trần Thị Thanh Th và 02 con (lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án: Ngày 02/3/2016 bị Tòa án nhân dân TP Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 58/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2022; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/12/2005 bị Tòa án nhân dân TP.HCM xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 1853/2005/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2010; Ngày 27/11/2012 bị UBND Quận 12, Tp.HCM đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 27/11/2014; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 18/01/2024 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Trần Thị Thanh Th. Sinh năm 1979 tại Tp.HCM; Giới tính: Nữ; Hộ khẩu thường trú: đường M, khu phố A, quận G, Tp.HCM; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: thợ may; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Thái Đ và bà: Lê Ngọc D; Chồng: Trương Đức T và 02 con (lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 18/01/2024 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  3. Họ và tên: Trần Hữu Ph. Sinh năm 1988 tại tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: đường H, khu phố M, phường T, Thành phố D, TP.HCM; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hữu V và bà: Huỳnh Thị Ng; Vợ: Đinh Ngọc Th (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 18/01/2024 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  4. Họ và tên: Dương Ngọc H. Sinh năn 1993 tại tình Phú Yên; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: thôn Ph, xã H, huyện Ph, tỉnh Phú Yên; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương T và bà: Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thanh Ph và 01 con (sinh năm 2024); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị Công an bắt, tạm giam ngày 18/01/2024 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  5. Họ và tên: Đinh Văn M. Sinh năm 1996 tại tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: khu phố M, Thị trấn V, huyện H, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn V (chết) và bà: Trịnh Thị Th (chết); Vợ: Lưu Thị Bích H và 01 con (sinh năm 2023); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị Công an bắt, tạm giam ngày 18/01/2024 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Lê Văn Mười H, sinh năm 1980; Địa chỉ: khu phố K, phường H, Quận H, TP.HCM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Đức T mới chấp hành án phạt tù về địa phương, không có việc làm, nghiện ma túy và biết được trong thời gian T chấp hành án thì vợ là Trần Thị Thanh Th có ngoại tình với Lê Văn Mười H và nghi ngờ con gái là con riêng của Th và H. Thủy nhiều lần yêu cầu Lê Văn Mười H chu cấp tiền cho Th nuôi con nhưng H có ý né tránh. Tín đã bàn bạc, rủ rê Th và Trần Hữu Ph cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Lê Văn Mười H.

Ngày 10/01/2024, T, Th và Ph đến khách sạn Minh Tú tại địa chỉ số 100/27/4A ấp 3, xã Đ, huyện H. Tại đây, T thuê phòng 104 và phòng 208, trong đó T và Ph ở phòng 104 còn Thủy ở phòng 208. Sau đó, Th chủ động liên lạc với H hẹn tới khách sạn để quan hệ tình dục thì H đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 ngày 10/01/2024, H điều khiển xe máy Wave Anphal màu xanh biển số 59S2-96103 đến khách sạn Minh Tú. Lúc này, Th đón H lên phòng 208 nói H đi tắm và giả vờ đi xuống quầy lễ tân lấy nước uống để đi xuống phòng 104 báo cho T và Ph là H đã tới. Th cố ý để cửa phòng mở cho T và Ph xông vào phòng trong lúc H đang tắm, không mặc quần áo. Trần Hữu Ph dùng điện thoại di động quay video việc H bị T nắm tóc kéo đến góc phòng để đánh với lý do H ngoại tình với vợ của T. T dùng tay, chân và cây chà bồn cầu đánh H liên tục. Ph vừa quay video vừa đe dọa yêu cầu H không được tri hô nên H không dám phản ứng. Khi H phản ứng thì T lấy 01 con dao dài khoảng 20cm màu đen cầm trên tay phải để khống chế H. T cầm dao dọa đâm H, dùng cán dao đánh vào đầu và dùng chân đạp vào vùng cổ và mặt H nhiều lần cho đến khi H không dám phản ứng chống cự. Ph lục túi quần của H đang để trên ghế lấy hết số tiền khoảng 1.500.000 đồng, chìa khóa xe máy trong túi quần bên phải và điện thoại đi động hiệu Samsung A33 trong túi quần bên trái của H. Ph cầm điện thoại của H yêu cầu dùng vân tay mở khóa để kiểm tra thông tin trong tài khoản ngân hàng. Khi Ph thấy tài khoản của H không có tiền thì tức giận dùng tay phải đấm vào vùng mặt và dùng chân đá vào vùng hông của H 01 cái. Trong khi khống chế H thì Th có nhắn tin cho Ph yêu cầu H viết giấy cam kết hàng tháng sẽ chu cấp 5.000.000 đồng cho Th để nuôi con. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho Dương Ngọc H đến để bán xe máy của H thì H đồng ý tới xem xe. T cho Ph số điện thoại của H để liên hệ bán xe. Ph gửi vị trí cho H và hẹn gặp tại cửa khách sạn Minh Tú. Ph lấy điện thoại Samsung A33 của H đi bán ở một cửa hàng điện thoại được 1.700.000 đồng, Ph không nhớ rõ cửa hàng nên CQĐT không thu hồi được điện thoại.

Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, H điều khiển xe Honda Vision biển số 59V3-409.37 chở theo vợ là Nguyễn Thanh Ph đến cửa khách sạn Minh Tú gặp Ph để xem xe. Sau đó, H gọi điện cho T nói đồng ý mua với giá 3.500.000 đồng nhưng đưa trước cho Ph 2.600.000 đồng và nợ lại 900.000 đồng thì T đồng ý. Ph đứng ở ngoài không biết việc H thỏa thuận mua bán xe này. H biết rõ xe máy trên do T phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá rẻ và bán lại cho đối tượng có tài khoản zalo tên “Nam ice” không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng. H thu lợi 1.500.000 đồng, số tiền này H đã tiêu xài hết.

Sau khi bán điện thoại và xe máy thì Ph lên phòng khách sạn đưa tiền cho T. T chia cho Ph 1.000.000 đồng, số tiền còn lại T giữ và tiêu xài hết. Sau khi Ph ra về, khoảng 30 phút sau thì T dẫn H xuống lầu và cho H tự đón xe xe về nhà.

Ngày 12/01/2024, Đinh Văn M theo dõi mạng xã hội thấy tài khoản Zalo tên “Nam ice” đăng thông tin bán xe máy Honda Wave màu xanh biển số 59S2-961.03 không có giấy đăng ký thì biết rõ đây là xe máy do người khác phạm tội mà có nhưng do ham rẻ nên M liên lạc giao dịch mua xe máy này giá 6.000.000 đồng, nhận xe này tại khu đất trống tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh.

Ngày 13/01/2024, Đinh Văn M thấy tài khoản Zalo “Thánh xạo l*n” đăng thông tin bán xe máy Honda Future gắn biển số 69B1-58317 không có giấy đăng ký và cũng biết rõ đây là xe máy do người khác phạm tội mà có nhưng ham rẻ nên liên lạc giao dịch mua xe máy này giá 6.750.000 đồng và được người bán giao xe máy này tại tiệm sửa xe máy Ngọc Sang trên đường Huỳnh Thị N thuộc xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Xác minh xe trên của Phạm Thế S (sinh năm 2000, nơi thường trú: Khóm 8, Phường H, TP C, tỉnh Cà Mau) đứng tên chủ xe bị mất trộm tại phường 5, quận Gò Vấp vào ngày 13/01/2024. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng bàn giao xe máy nêu trên cho Công an quận Gò Vấp xử lý theo thẩm quyền.

Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Hóc Môn xác định: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh nâu bạc biển số 59S2-961.03 trị giá 8.000.000 đồng; Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A33 trị giá 3.000.000 đồng. Tổng trị giá là 11.000.000 đồng.

Ngày 12/01/2024, Lê Văn Mười H đến Công an xã Đông Thạnh trình báo vụ việc. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn mời các đối tượng về làm việc, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên đã nêu.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe máy Honda Wave Alpha màu xanh có số máy JA39E-0576412 số khung RLHJA3909HY601264 gắn biển số 59S2 - 961.03 do Đinh Văn M giao nộp. Xác minh xe do bà Nguyễn Thị Tâm V (sinh năm 1992, nơi thường trú: 420 Nguyễn Xí, Phường N, quận B, TP.HCM) đứng tên chủ xe. Lê Văn Mười H mua nhưng nhờ bà Viên đứng tên đăng ký. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả xe máy cho Lê Văn Mười H.
  • 01 xe máy Honda Future màu xanh có số máy JC90E 0106296, số khung RLHJC7656MY007419 gắn biển số 69B1 – 583.17 do Đinh Văn Minh giao nộp. Xác minh xe do Phạm Thế S (sinh năm 2000, nơi thường trú: Khóm 8, Phường L, TP C, tỉnh Cà Mau) đứng tên chủ xe bị mất trộm tại phường 5, quận Gò Vấp vào ngày 13/01/2024. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bàn giao xe máy nêu trên cho Công an quận Gò Vấp xử lý theo thẩm quyền.
  • 01 chiếc xe máy Attila màu sơn đen có số máy VMM9BE-D403228 số khung RLGH125GD7D403228, gắn biển số 51R6-3386 là phương tiện của Trương Đức T sử dụng thực hiện việc phạm tội. Xe do bà Lê Ngọc D (nơi cư trú: 198/2/9 Nguyễn Thái S, Phường M, quận G, là mẹ của bị can Trần Thị Thanh Th) đứng tên chủ xe nhưng giao cho Trương Đức T sử dụng. Bà D không biết việc T dùng xe này thực hiện tội phạm và từ chối nhận lại xe máy.
  • 01 chiếc xe máy Honda Vision có số máy JF66E0-257026 số khung 5811GY256981 gắn biển số 59V3-40937 là phương tiện của Dương Ngọc H sử dụng bị tạm giữ. H khai mua xe này của đối tượng không rõ lai lịch để làm phương tiện sử dụng, xe không có giấy đăng ký xe và không rõ nguồn gốc xe. Kết quả giám định số khung số máy đã bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy nên không có căn cứ để xác định nguồn gốc xe này. Kết quả tra cứu thông tin đăng ký biển số 59V3-40937 do bà Nguyễn Thị Ngọc Ph (sinh năm 1978, nơi cư trú: Q T, phường L, quận G) đứng tên chủ xe, bà Ph vẫn đang quản lý sử dụng xe biển số này.
  • 01 đoạn nhựa màu đỏ dài khoảng 30cm là cán cây chà sàn nhà vệ sinh đã bị gãy là hung khí được Trương Đức T dùng đánh Lê Văn Mười H.
  • 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu cam do Trần Thị Thanh Th giao nộp.
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 do Trương Đức T giao nộp.
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu xanh do Trần Hữu Ph giao nộp.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu trắng do Dương Ngọc H giao nộp.
  • 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng do Đinh Văn M giao nộp.

Đối với 06 điện thoại trên là phương tiện các bị can dùng để liên lạc thực hiện tội phạm.

Về dân sự: Bị hại Lê Văn Mười H đã nhận lại tài sản là xe máy bị chiếm đoạt. Đối với tiền và điện thoại bị hại Hai không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 147/CT-VKSHHM ngày 06/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168; truy tố các bị cáo Dương Ngọc H và Đinh Văn M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 10/01/2024, Trương Đức T là người chủ mưu cùng với Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph đã bàn bạc, phân chia nhiệm vụ để Th dụ dỗ bị hại là Lê Văn Mười H đến khách sạn Minh Tú địa chỉ 100/27/4A ấp 3, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn để quan hệ tình dục và cướp tài sản của H. Khi Lê Văn Mười H đến khách sạn thì Th đã mở cửa và báo cho T và Ph đi vào phòng. Ph lấy điện thoại để quay hình ảnh H không mặc đồ và đe dọa, T dùng chân tay và cây chà bồn cầu đánh H, sau đó dùng 01 con dao dài khoảng 20cm đe dọa và dùng cán dao đánh vào đầu H. Khi H không thể chống cự thì T và Ph đã lấy trong bóp của H số tiền 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung A33 trị giá 3.000.000 đồng và 01 xe gắn máy Honda Wave biển số 59S2-961.03 trị giá 8.000.000 đồng. Tổng tài sản bị hại bị chiếm đoạt là 12.500.000 đồng.

Ngày 10/01/2024, Dương Ngọc H biết rõ xe máy Honda Wave biển số 59S2-961.03 do bị can T phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên đã mua với giá 3.500.000 đồng, sau đó bán lại cho một đối tượng có tài khoản zalo tên “Nam ice” không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng. H thu lợi bất chính số tiền 1.500.000 đồng.

Ngày 12/01/2024 và 13/01/2024, Đinh Văn M lên mạng xã hội mua xe Honda Wave biển số 59S2-961.03 với giá 6.000.000 đồng và 01 xe Honda Future biển số 69B1-583.17 với giá 6.750.000 đồng từ những đối tượng không rõ lai lịch có tên Zalo “Nam ice” và “Thánh xạo l*n”. M biết rõ những xe này do người khác phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên đã mua để bán lại kiếm lời, M chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.

Đối với Nguyễn Thanh Ph là vợ của Dương Ngọc H đi cùng H đến khách sạn Minh Tú nhưng không tham gia thực hiện tội phạm cùng H nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng không rõ lai lịch có tên Zalo “Nam ice” mua xe từ Huy bán cho Minh và đối tượng không rõ lai lịch có tên Zalo “Thánh xạo l*n” bán xe cho Minh. CQĐT tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả đề nghị xử lý sau.

Hành vi của các bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và xâm hại đến sức khỏe, thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đã phạm tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức”, “sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”. Bị cáo Trương Đức T đã từng có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích thì T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện Kiểm sát quyết định truy tố bị cáo Trương Đức T về tội “Cướp tài sản” với các tình tiết: phạm tội có tổ chức; sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm a, d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph về tội “Cướp tài sản” với các tình tiết: phạm tội có tổ chức; sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Dương Ngọc H đã có hành vi tiêu thụ tài sản là chiếc xe máy Honda Wave biển số 59S2-961.03, bị cáo Đinh Văn M đã có hành vi tiêu thụ tài sản là chiếc xe Honda Wave biển số 59S2-961.03 và chiếc xe Honda Future biển số 69B1-583.17, các bị cáo Dương Ngọc H và Đinh Văn M biết rõ các tài sản này là do người khác phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên đã mua để bán lại kiếm lời. Hành vi của Dương Ngọc H và Đinh Văn M đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây trở ngại đến công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát quyết định truy tố bị cáo Dương Ngọc H và Đinh Văn M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: trong vụ án này, giữa các bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph có sự phân công, bàn bạc công việc cụ thể, trong đó bị cáo Trương Đức T là người chủ mưu, các bị cáo Trần Thị Thanh Th và Trần Hữu Ph có vai trò đồng phạm giúp sức cùng bị cáo T có hành vi làm cho bị hại Lê Văn Mười H lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt của bị hại số tiền 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung A33 và chiếc xe máy Honda Wave biển số 59S2-961.03.

Đối với các bị cáo Dương Ngọc H và Đinh Văn M mặc dù không hứa hẹn trước, nhưng các bị cáo nhận thức rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vì mục đích tư lợi, muốn kiếm tiền nên bị cáo H và bị cáo M đã đồng ý tìm cách tiêu thụ tài sản của bị hại Lê Văn Mười H là chiếc xe máy Honda Wave biển số 59S2-961.03 để hưởng lợi.

Bằng hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tiếp tay cho những hành vi phạm tội khác làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để có giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có hình phạt tương xứng.

Bị cáo Trương Đức T có nhân thân xấu, 04 bị cáo Trần Thị Thanh Th, Trần Hữu Ph, Dương Ngọc H và Đinh Văn M chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ: Cả 05 bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th, Trần Hữu Ph, Dương Ngọc H và Đinh Văn M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Dương Ngọc Huy phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tình tiết tăng nặng: 04 bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th, Trần Hữu Ph, Dương Ngọc H không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Đinh Văn M phạm tội 02 lần trở lên.

Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như đã nêu trên để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy hiện tại các bị cáo không nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về dân sự: Bị hại Lê Văn Mười H đã nhận lại tài sản là xe máy bị chiếm đoạt. Đối với tiền và điện thoại bị chiếm đoạt bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xe máy Honda Wave Alpha màu xanh (số máy JA39E-0576412, số khung RLHJA3909HY601264), biển số 59S2 - 961.03, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả xe máy cho bị hại Lê Văn Mười H nên Hội đồng xét xử không xem xét lại (BL 216).
  • Đối với 01 xe máy Honda Future màu xanh (số máy JC90E – 0106296, số khung RLHJC7656MY007419), biển số 69B1 - 583.17, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bàn giao xe máy nêu trên cho Công an quận Gò Vấp xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết (BL 232, 233).
  • Đối với 01 xe máy Attila màu sơn đen (số máy VMM9BE-D403228, số khung RLGH125GD7D403228), biển số 51R6-3386 là phương tiện của Trương Đức T sử dụng thực hiện việc phạm tội. Xác minh xe do bà Lê Ngọc D (nơi cư trú: Phường L, quận Gò Vấp, là mẹ của Trần Thị Thanh Th) đứng tên chủ xe nhưng giao cho Trương Đức T sử dụng. Bà D không biết việc T dùng xe này thực hiện tội phạm và từ chối nhận lại xe máy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 xe máy Honda Vision, biển số 59V3-40937 là phương tiện của Dương Ngọc H sử dụng bị tạm giữ. H khai mua xe này của đối tượng không rõ lai lịch để làm phương tiện sử dụng, xe không có giấy đăng ký xe và không rõ nguồn gốc xe. Kết quả giám định số khung số máy đã bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy nên không có căn cứ để xác định nguồn gốc xe này. Kết quả tra cứu thông tin đăng ký biển số 59V3-40937 do bà Nguyễn Thị Ngọc Phg (sinh năm 1978, nơi cư trú: QT, phường L, Gò Vấp) đứng tên chủ xe, bà Ph vẫn đang quản lý sử dụng xe biển số này. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 đoạn nhựa màu đỏ dài khoảng 30cm là cán cây chà sàn nhà vệ sinh đã bị gãy, là hung khí Trương Đức T dùng để đánh Lê Văn Mười H, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu cam (thu giữ của Trần Thị Thanh Th); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 (thu giữ của Trương Đức T); 01 điện thoại di động hiệu Vivo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu xanh (thu giữ của Trần Hữu Ph); 01 điện thoại di động hiệu Oppo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu trắng (thu giữ của Dương Ngọc H); 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng (thu giữ của Đinh Văn M) là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Ngọc H thừa nhận số tiền đã thu lợi bất chính từ việc bán xe máy Honda Wave biển số 59S2-961.03 là 1.500.000 đồng. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần buộc bị cáo Dương Ngọc H nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Căn cứ điểm a, d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trương Đức T về tội “Cướp tài sản” 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

1.2. Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh Th về tội “Cướp tài sản” 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

1.3. Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trần Hữu Ph về tội “Cướp tài sản” 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đinh Văn M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Dương Ngọc H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

2/. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn nhựa màu đỏ dài khoảng 30cm (cán cây chà sàn nhà vệ sinh bị gãy).
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu cam (do Trần Thị Thanh Th giao nộp); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 (do Trương Đức T giao nộp); 01 điện thoại di động hiệu Vivo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu xanh (do Trần Hữu Ph giao nộp); 01 điện thoại di động hiệu Oppo có màn hình cảm ứng nắp lưng màu trắng (do Dương Ngọc H giao nộp); 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng (do Đinh Văn M giao nộp).
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy Attila màu sơn đen (số máy VMM9BE-D403228, số khung RLGH125GD7D403228), biển số 51R6-3386.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy Honda Vision (số máy JF66E0-257026, số khung 5811GY256981), biển số 59V3-40937.

(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 566/LNK-CSĐT-HS ngày 08/4/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024).

Buộc bị cáo Dương Ngọc H nộp lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

3/. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trương Đức T, Trần Thị Thanh Th, Trần Hữu Ph, Dương Ngọc H và Đinh Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND H.Hóc Môn;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - CQĐT Công an H.HM;
  • - Chi cục THADS H.Hóc Môn;
  • - Nhà tạm giữ Công an H.HM;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 192/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger