TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 192/2024/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Quốc Bảo |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Kim Chi |
| Ông Trần Văn Chánh. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quốc A, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Nai;
Nơi cư trú: Tổ A, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Vận động viên; trình độ học vấn (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1980; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại:
- 1/ Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958 (mẹ của bị hại)
- 2/ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (con của bị hại)
- 3/ Anh Phạm Văn H1, sinh năm 2000 (con của bị hại)
Cùng địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà N1 và anh H1: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc A có giấy phép lái xe mô tô hạng A1. Vào khoảng 04 giờ 45 phút ngày 08-5-2023, A điều khiển xe mô tô biển số 60G1-239.31 có dung tích xi lanh 149 cm³ lưu thông trên đường B theo hướng từ Quốc lộ E đi công viên L. Khi đến đoạn đường thuộc khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, lúc này phía trước xe mô tô của A có chị Nguyễn Thị B (sinh năm 1978, ngụ tại ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang) đang từ từ đi bộ qua đường (từ lề đường bên trái hướng sang lề đường bên phải, tính theo hướng A lưu thông). Khi chị B đi đến vạch sơn vàng liền nét phân chia phần đường, do A thiếu chú ý quan sát phía trước nên đã để xe mô tô biển số 60G1-239.31 do A điều khiển đi đến đụng vào người chị B gây tai nạn giao thông, làm chị B tử vong tại hiện trường.
Quá trình điều tra, Trần Quốc A khai nhận hành vi phạm tội như trên. (Bút lục số: 46 - 49, 58, 59-75, 109-111).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường đã xác định được các dấu vết vụ tai nạn như sau (tất cả các dấu vết được đo vào mép lề đường bên phải (viết tắt là lề phải) theo hướng từ Quốc lộ E đi công viên L, lấy trụ điện số 108 nằm trên lề đường bên phải làm điểm mốc):
- - Hiện trường không còn nguyên vẹn, xe mô tô biển số 60G1-239.31 đã được di dời vào lề phải.
- - Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, ở giữa có vạch sơn vàng liền nét phân chia thành hai phần đường lưu thông hướng ngược nhau, mỗi phần đường rộng 05m70. Phía bên phải là khu đất trống được rào tôn, phía bên trái là nhà dân ở liền kề và cổng vào khu công nghiệp B.
- - Xe mô tô biển số 60G1-239.31 ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng đi công viên L, đuôi xe hướng ngược lại. Trục bánh trước cách lề phải 01m10, trục bánh sau cách lề phải 01m00 và cách điểm mốc là 04m80.
- - Vết cày của xe mô tô biển số 60G1-239.31 làm tróc nhựa đường đứt quãng. Đầu vết cày cách gác chân trước xe mô tô 14m00 và cách lề phải 02m30.
- - Vết cày của xe mô tô biển số 60G1-239.31 ở trên lề phải. Đầu vết cày cách gác chân trước xe mô tô 03m40 và cách lề phải 0m95. (Bút lục số: 59 - 61)
Kết luận giám định tử thi số 183/KLGĐTT-TTPYÐN ngày 22-5-2023 của Giám định viên Trung tâm P về nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị B:
- - Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
- + Chấn thương sọ não gây gãy vỡ sọ chẩm phức tạp, chảy máu nội sọ.
- + Chấn thương ngực gây gãy đa xương sườn, dập hai phổi, ngập máu khi phế quản, tụ máu trung thất, tụ máu mỏm tim.
2
- + Chấn thương bụng gây vỡ gan nhiều vị trí, tụ máu quanh bao thận hai bên.
- + Kết hợp chấn thương gãy trật khớp cổ tay trái, gãy xương đùi phải và gãy 02 xương cẳng chân phải.
Hậu quả gây xuất huyết dưới nội tâm mạc. (Bút lục số: 81, 82)
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 60G1-239.31 cho Trần Quốc A là chủ sở hữu. (Bút lục: 26, 112)
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, Trần Quốc A đã bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị B số tiền 120.000.000₫ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với A. (Bút lục số: 50-53)
Tại bản Cáo trạng số: 194/CT-VKSBH ngày 29/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Quốc A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Quốc A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự do đại diện bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quá trình tranh tụng, bị cáo Trần Quốc A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin lỗi đại diện gia đình bị hại và hứa cải tạo trở thành người tốt, mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục làm việc, học tập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
3
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại vắng mặt. Xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử do quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường, khắc phục hậu quả từ bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn xin bãi nại, đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, nên việc xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ 50 phút ngày 08-5-2023, tại đường B đoạn thuộc khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Quốc A có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển số 60G1-239.31 có dung tích xi lanh 149 cm³ lưu thông trên đường thiếu chú ý quan sát phía trước nên đã tông vào chị Nguyễn Thị B đang đi bộ qua đường nơi không có vạch kẻ dành cho người đi bộ (từ lề đường bên trái sang lề đường bên phải, theo hướng A lưu thông), gây tai nạn làm chị B tử vong tại hiện trường.
Hành vi của bị cáo Trần Quốc A đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an toàn công cộng về giao thông đường bộ, làm thiệt hại đến tính mạng và sức khỏe của người khác, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại, được đại diện gia đình bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi; bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) và đạt nhiều huy chương trong thi đấu thể thao; bị cáo có ông nội là Trần Văn C được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
4
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian được tại ngoại bị cáo chấp hành tốt các quy định pháp luật và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục được học tập và lao động cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Quốc A tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 120.000.000₫ (một trăm hai mươi triệu đồng). Gia đình bị hại đã làm đơn xác nhận không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 60G1-239.31 cho Trần Quốc A là chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018
Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5
Giao bị cáo Trần Quốc A cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Trần Quốc A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Bảo |
6
Bản án số 192/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 192/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc A phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
