Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Bản án số: 192/2024/HSST

Ngày: 29-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Sơn

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

-Thư ký phiên toà: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà : Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường Trung tâm V3 phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2024/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình D, (tên gọi khác: không); giới tính: Nam; Sinh ngày 09/02/1992 tại Đồng Nai. Nơi thường trú: Khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh BR-VT. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Đình T (đã chết); Họ tên mẹ: Mai Thị T1, sinh năm: 1955; Gia đình bị cáo có 07 người con. Bị cáo là con út trong gia đình. Tiền án: Ngày 20/3/2018 Nguyễn Đình D bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ), tỉnh BR-VT xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt 09 tháng tù ngày 20/8/2018, bị cáo chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự.Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 11/02/2009, Nguyễn Đình D bị Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Ủy ban nhân dân thị xã P), tỉnh BR-VT áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng; Ngày 21/6/2019, Nguyễn Đình D bị Tòa án nhân thị xã P, tỉnh BR-VT xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Bị cáo Nguyễn Đình D bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 11/6/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh BR-VT. (bị cáo có mặt tại phiên toà)

  2. Nguyễn Thanh V, (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/02/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Khu phố E, phường H, thị xã P, tỉnh BR-VT. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: sửa xe; Họ tên cha: Nguyễn Thanh V1, sinh năm: 1957; Họ tên mẹ: Từ Thị H (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 người con. Bị cáo là con út trong gia đình. Họ tên vợ: Lê Thị N, sinh năm: 1997; có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Thanh V bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 11/6/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 20/6/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh BR-VT. (bị cáo có mặt tại phiên toà)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1990; Địa chỉ: 3 đường M, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)

Người làm chứng:

  1. Bà Cao Thị H1, sinh năm: 1972 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

  3. Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 2002 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

  5. Chị Bùi Cát Tường V2, sinh năm: 2004 (văng mặt)
  6. Địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V là người nghiện ma tuý và quen biết nhau. Vào chiều ngày 10/06/2024, D nảy sinh ý định tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã gọi điện rủ Vững chung tiền và tổ chức sử dụng trái phép thì V đồng ý. Cả hai bàn bạc thống nhất: D sẽ góp 300.000 đồng và đi tìm nơi để tổ chức sử dụng, còn V sẽ bỏ tiền trước và đi mua ma tuý. Sau khi bàn bạc xong, V gọi điện thoại cho người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) và đi đến khu vực ngã tư C thuộc xã C, thị xã P, tỉnh BR - VT mua được 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. D mang theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cất giấu trong người và gọi điện cho Nguyễn Thị Ngọc L (SN: 2002; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang) để nhờ L chở D đi đến nhà nghỉ H2 tại tổ A, ấp A, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT thuê phòng làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Lúc này, L đang ngồi chơi với Bùi Cát Tường V2 (SN: 2004; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh BR-VT) nên rủ V2 đi cùng. L điều khiển chiếc xe máy Honda, loại Airblade, màu xanh đen BKS: 34B5-026.59 chở V2 đến nhà D đón D đi đến nhà nghỉ H2. Sau khi thuê được phòng số 05, D rủ L, V2 lên phòng chơi thì cả hai đồng ý. Lúc này, V gọi điện cho D báo xe bị hỏng và đang đứng ở khu vực ngã ba S thuộc xã T nên D nhờ L đi đón V. Khi L, V đến phòng, D lấy ra từ trong người bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để trên nệm, V lấy ra từ trong túi quần phía trước, bên trái 01gói ma túy và lấy ra từ trong người 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng xúc một ít ma tuý bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để sử dụng; số ma tuý còn lại, V tiếp tục đem cất giấu vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc để khi hết số ma tuý nêu trên sẽ lấy ra sử dụng tiếp. D rủ L, V2 cùng sử dụng trái phép chất ma tuý thì L, V2 đồng ý. Vững đốt chất ma túy có trong “nỏ” sử dụng trước rồi nói có ai sử dụng ma tuý thì tự sử dụng, sau đó D, L, V2 lần lượt thay phiên nhau sử dụng, D đưa cho V 300.000 đồng tiền góp mua ma tuý như đã bàn bạc trước đó. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi D, V đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các tang vật: 01 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt trong túi quần phía trước, bên trái Vững mặc, 01 ĐTDĐ hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 353996323159154, 01 ĐTDĐ hiệu VIVO màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 865717063159522, 01 ĐTDĐ hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356566086594462, 01 xe gắn máy màu xanh, biển số: 34-B5 026.59, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng và 300.000 đồng tiền mặt (BL 31-33 81-96B, 104-120, 122-136, 143-157).

Tại bản kết luận giám định số: 365/KL-KTHS-MT ngày 16/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B-VT kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong có hình dấu của Công an xã T, CATX P, tỉnh BR-VT, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Lê Khắc N1, Mai Việt K, Nguyễn Thanh V, Bùi Cát Tường V2, Nguyễn Thị Ngọc L, Nguyễn Đình D, Nguyễn Huy Đ bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (ký hiệu mẫu A1) có khối lượng 0,7719 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định (BL 24).

Bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 06-11-2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình D và Nguyễn Thanh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và không có ý kiến gì về bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 06-11-2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình D và Nguyễn Thanh V đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề số 365 ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của những người sau: Thượng tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M1, Nguyễn Quốc T3 ( mẫu vật đã được sử dụng hết trong quá trình giám định) ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá;
  • Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 310.000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 353996323159154; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 865717063159522 do liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356566086594462 là tài sản của Bùi Cát Tường V2, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho Bùi Cát T4 Vy quản lý, sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1085/QĐ ngày 01/7/2024.
  • Đối với 01 chiếc xe máy AIRBLADE, màu xanh đen, biển số: 34B5-026.59 là tài sản của ông Nguyễn Văn M (SN: 1990, Nơi cư trú: 3 đường M, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương). Ông M cho L mượn xe vào ngày 10/06/2024 để đi công việc, không sử dụng vào mục đích phạm tội. Hiện Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại xe cho ông Nguyễn Văn M quản lý, sử dụng theo theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1086/QĐ ngày 01/7/2024.
  • Đối với 01 chiếc xe máy Vững sử dụng để đi mua trái phép chất ma tuý: quá trình điều tra V khai là chiếc xe Vững mượn của T5 (không rõ nhân thân lai lịch), V không nhớ biển số xe. Khi xe bị hỏng, V đem xe đến sửa chữa tại một tiệm sửa xe gần ngã tư T và gọi T5 đến lấy lại xe. Do đó, cơ quan Công an không thu giữ được chiếc xe khi bắt quả tang Vững vào ngày 10/6/2024. Hiện Cơ quan Công an đang tiếp tục xác minh, làm rõ thông tin, khi có cơ sở sẽ tiến hành thu giữ, xử lý sau.

Tại phiên tòa, các bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội và các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên có đủ cơ sở xác định được hành vi của các bị cáo như sau: Vào chiều ngày 10/6/2024, tại phòng số 5, nhà nghỉ H2 thuộc tổ A, ấp A, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tham gia sử dụng gồm có: Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Thị Ngọc L, Bùi Cát Tường V2. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi D, V đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy mà D, V đang tổ chức sử dụng còn lại bị thu giữ có khối lượng 0,7719 gam, loại Methamphetamine.

        Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuy”, thuộc tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015.

        Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đối với Nguyễn Đình D, Nguyễn Thanh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma tuý; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và hành vi tổ chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp đi vào con đường phạm tội. Bị cáo Nguyễn Đình D có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, khi xem xét mức hình phạt cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo D là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V cùng thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đồng thời là người chuẩn bị địa điểm, công cụ và góp tiền mua ma túy nhiều hơn bị cáo V. Bị cáo V là người giúp sức tích cực, trực tiếp đi mua ma túy về để cùng bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, trong vụ án này, bị cáo D đứng vai trò đầu vụ nên khi áp dụng hình phạt cần nghiêm khắc hơn bị cáo V.

Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đình D có 01 tiền án 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 41/2018/HSST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P), chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 phong bì niêm phong đề số 365 ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của những người sau: Thượng tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M1, Nguyễn Quốc T3 là ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá các bị cáo sử dụng làm công cụ thực hiện tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 31 0.000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 353996323159154; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 865717063159522 do có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356566086594462 là tài sản của Bùi Cát Tường V2, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho Bùi Cát T4 Vy quản lý, sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1085/QĐ ngày 01/7/2024 và 01 chiếc xe máy AIRBLADE, màu xanh đen, biển số: 34B5-026.59 là tài sản của ông Nguyễn Văn M (SN: 1990, Nơi cư trú: 3 đường M, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương). Ông M cho L mượn xe vào ngày 10/06/2024 để đi công việc, không sử dụng vào mục đích phạm tội. Hiện Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại xe cho ông Nguyễn Văn M quản lý, sử dụng theo theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1086/QĐ ngày 01/7/2024 là phù hợp.
  • Đối với 01 chiếc xe máy Vững sử dụng để đi mua trái phép chất ma tuý: quá trình điều tra V khai là chiếc xe Vững mượn của T5 (không rõ nhân thân lai lịch), V không nhớ biển số xe. Khi xe bị hỏng, V đem xe đến sửa chữa tại một tiệm sửa xe gần ngã tư T và gọi T5 đến lấy lại xe. Do đó, cơ quan Công an không thu giữ được chiếc xe khi bắt quả tang Vững vào ngày 10/6/2024. Đề nghị Cơ quan Công an đang tiếp tục xác minh, làm rõ thông tin, khi có cơ sở sẽ tiến hành thu giữ, xử lý sau.

[6]. Đối với đối tượng tên T2 bán ma túy cho bị cáo V do chưa rõ lai lịch, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc L, Bùi Cát Tường V2: quá trình điều tra khai nhận không tham gia bàn bạc, góp tiền mua ma túy để tổ chức sử dụng. Vì vậy, L và V2 không đồng phạm với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và V2 theo Quyết định xử phạt hành chính số 12, 13/QĐ-XPHC ngày 26/6/2024 là đúng quy định pháp luật.

[7]. Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình D và Nguyễn Thanh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ";

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Xử phạt: Nguyễn Đình D 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Xử phạt: Nguyễn Thanh V 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.

- Về xử lý vật chứng : áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đề số 365 ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của những người sau: Thượng tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M1, Nguyễn Quốc T3 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
  • + Tịch thu sung quỹ số tiền 310.000₫ (Ba trăm mười triệu đồng) ; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 353996323159154; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 865717063159522.

    (Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 11/BB.CCTHADS ngày 06/11/2024.)

Án phí HSST: Mỗi bị cáo phải nộp là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - CCTHA dân sự thị xã Phú Mỹ;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thuỳ Trang

Hội thẩm nhân dân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán

Chủ toạ phiên toà

Hội thẩm nhân dân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 192/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vu Ngoc L cung dong bon
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger