|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU Bản án số: 192/2024/DS-ST Ngày 14 - 11 - 2024 Về việc tranh chấp hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đẳng, Bà Lê Thị Quyền
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Trân – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 242/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Hà Thị C, sinh năm: 1975
- Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị Bé D, sinh năm: 1985
- Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
Bà C, bà D yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hà Thị C trình bày:
Năm 2020 và năm 2021 bà làm chủ hụi, mở 8 dây hụi, chị Phạm Thị Bé D tham gia chơi 36 chưng hụi (ghi tên D - L), hốt 26 chưng, bán 02 chưng, còn 08 chưng hụi sống, cụ thể:
Dây 1: Hụi mở ngày 26/10/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 50 chưng, khui mỗi tháng 1 lần, hụi khui được 15 kỳ, còn 35 kỳ chưa khui, hụi khui hàng tháng, bà D tham gia 05 chưng hốt 02 chưng, còn 03 chưng hụi sống, bà Duyên nợ bà tiền hụi chết là 70.000.000 đồng đối trừ 03 chưng hụi sống thì bà D còn nợ bà số tiền 25.000.000 đồng.
Dây 2: Hụi mở ngày 26/10/2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 60 chưng, mỗi tháng khui 01 lần, bà D tham gia 05 chưng, hốt 02 chưng, bán 01 chưng, còn sống 02 chưng. Bà D còn nợ bà số tiền hụi chết là 306.000.000 đồng, đối trừ với 02 chưng hụi sống thì bà D còn nợ bà số tiền 246.000.000 đồng.
Dây 3: Hụi mở ngày 26/11/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 60 chưng, tháng khui 2 lần, hụi khui được 26 kỳ, còn 26 kỳ chưa khui. Bà D tham gia 05 chưng, hốt 04 chưng, bán 01 chưng, bà Duyên nợ bà số tiền hụi chết là 160.000.000 đồng.
Dây 4: Hụi mở ngày 26/1/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 50 chưng, mỗi tháng khui 2 lần, hụi khui được 24 kỳ, còn 26 kỳ chưa khui, bà D tham gia 05 chưng và hốt hết 05 chưng nên bà Duyên nợ bà số tiền hụi chết là 130.000.000 đồng.
Dây 5: Hụi mở ngày 26/2/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng gồm 35 chưng, mỗi tháng khui 1 lần, bà D tham gia 03 chưng, hốt hết 03 chưng nên bà Duyên nợ bà tiền hụi chết là 72.000.000 đồng.
Dây 6: Hụi mở ngày 26/2/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 35 chưng, bà D tham gia 03 chưng và đã hốt hết 03 chưng nên bà Duyên nợ bà tiền hụi chết là 72.000.000 đồng.
Dây 7: Hụi mở ngày 16/4/2021 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 35 chưng, bà D tham gia 05 chưng, hốt 02 chưng, còn sống 03 chưng, bà Duyên nợ bà tiền hụi chết là 100.000.000 đồng đối trừ với 03 chưng hụi sống thì bà Duyên nợ bà số tiền 40.000.000 đồng.
Dây 8: Hụi mở ngày 16/4/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, gồm 36 chưng, mỗi tháng khui 2 lần, bà D tham gia 05 chưng và đã hốt 05 chưng nên bà Duyên nợ bà số tiền hụi chết là 80.000.000 đồng.
Ngày 24/6/2022 bà và bà D đối chiếu hụi sống, hụi chết nêu trên với các khoản tiền hụi bà tham gia do bà D làm chủ. Sau khi đối trừ bà D còn nợ bà số tiền 310.000.000 đồng nên bà yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết buộc bà D trả lại cho bà số tiền hụi còn nợ là 310.000.000 đồng (Ba trăm triệu mười) đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 25/10/2024 bị đơn bà Phạm Thị Bé D trình bày:
Bà có tham gia các dây hụi bà C làm chủ gồm dây hụi mở ngày 26/10/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng; hụi mở ngày 26/10/2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng; hụi mở ngày 26/11/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng; hụi mở ngày 26/1/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng; hụi mở ngày 26/2/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng; hụi mở ngày 26/2/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng; hụi mở ngày 16/4/2021 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng; hụi mở ngày 16/4/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng. Số tiền hụi còn nợ bà C thì giữa bà và bà C đã đối chiếu vì khi đó bà C cũng có tham gia hụi do bà làm chủ. Sau khi đối chiếu số tiền hụi bà còn nợ bà C là 310.000.000 đồng. Bà xác định bà thiếu tiền thì bà trả nhưng vì hiện nay bà đang chấp hành án nên yêu cầu sau khi chấp hành án xong sẽ trả dần cho bà C, bà yêu cầu Tòa án cho bà được vắng mặt khi giải quyết vụ án của bà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến ngày đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 16, 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Cẩm . Buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho bà Hà Thị C số tiền hụi 310.000.000 đồng; về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về lệ phí, án phí của Tòa án các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: bà Hà Thị C khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Bé D trả tiền hụi. Quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà C, bà D yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bà C và bà D theo quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Bà Hà Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho bà số tiền hụi là 310.000.000 đồng. Xét thấy, việc bà C tham gia hụi do bà D làm chủ là có thật được bà D thừa nhận, bà D cũng xác định bà C cũng có tham gia hụi do bà D làm chủ, số tiền hụi sống và hụi chết giữa bà D và bà C cũng đã đối chiếu, bà D xác định sau khi đối chiếu thì tổng số tiền hụi bà D còn nợ bà C là 310.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà C. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị C đối với bà Phạm Thị Bé D về việc yêu cầu trả tiền hụi là 310.000.000 đồng.
Bà D yêu cầu được trả dần số tiền còn nợ vì không có khả năng trả một lần nhưng bà C không đồng ý để bà D trả dần. Xét thấy, giữa các đương sự không thống nhất được phương thức trả tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét, giữa bà C và bà D có quyền thỏa thuận phương thức trả tiền trong quá trình thi hành án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh là phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Phạm Thị Bé D phải chịu 310.000.000 đồng x 5% = 15.500.000 đồng. Bà Hà Thị C không phải chịu án phí, bà C đã dự nộp được nhận lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị C về việc yêu cầu bà Phạm Thị Bé D trả tiền hụi.
- Buộc bà Phạm Thị Bé D trả cho bà Hà Thị C số tiền 310.000.000 (ba trăm mười triệu) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Phạm Thị Bé D phải chịu 15.500.000 (mười lăm triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Bà Hà Thị C không phải chịu án phí, bà Hà Thị C đã nộp tạm ứng án phí 7.750.000 (bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006690 ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được nhận lại.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà C, bà D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mộng C1 |
Bản án số 192/2024/DS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 192/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hà Thị C yêu cầu bà Phạm Thị Bé D trả tiền hụi
