Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần K;

Địa chỉ trụ sở chính: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 2032/QĐ-NHKL-2024 ngày 24/7/2024) (ông T có mặt).

Địa chỉ: Số D, N, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Trương Minh S; sinh năm: 1985 và bà Sơn Thị L; sinh năm: 1988 (ông S và bà L vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/6/2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Ngọc T trình bày:

Ông Trương Minh S và bà Sơn Thị L có vay vốn của Ngân hàng thương mại Cổ phần K – Chi nhánh S1 – Phòng G, cụ như sau:

1. Hợp đồng tín dụng số 248/22/HĐTD/2101-7768 ngày 07/6/2022: Số tiền vay: 100.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi tôm, giải ngân ngày: 07/6/2022, thời hạn vay: 12 tháng, ngày đến hạn 07/6/2023, lãi suất vay là: 11,1%/năm được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Kể từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất cho vay thay đổi 03 tháng 01 lần và được tính bằng mức lãi suất tiền tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh cuối kỳ của Ngân hàng K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng thêm 3,80%/năm. Lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại đơn vị (cùng loại hình và phương thức vay), Lãi suất quá hạn: 150% (gấp 1.5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn.

2. Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại Hợp đồng thế chấp số 183/17/HĐTC-BĐS/2101-2922 ngày 26/6/2017 cụ thể: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 694137, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS00742 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 05/5/2017 tại thửa số 426 tờ bản đồ số 6; diện tích 8.470,9 m²; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; nguồn gốc sử dụng: Nhận tặng cho đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất; mục đích sử dụng: Đất trồng lúa nước còn lại.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng C công chúng ngày 26/6/2017 và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/6/2017 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã V theo đúng quy định pháp luật.

3. Quá trình thanh toán nợ:

Kể từ ngày vay đến nay ông Trương Minh S, bà Sơn Thị L chưa thanh toán đủ gốc, lãi cho Ngân hàng nên vi phạm Hợp đồng tín dụng.

Tính đến ngày 30/9/2024 ông Trương Minh S, Sơn Thị L còn nợ Ngân hàng thương mại Cổ phần K tổng số tiền 144.858.605 đồng (trong đó: Nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi: 11.368.767 đồng, phạt lãi: 1.664.769 đồng, phạt gốc: 31.825.068 đồng).

Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Trương Minh S và Sơn Thị L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K toàn bộ số tiền 144.858.605 đồng (trong đó: Nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi: 11.368.767 đồng, phạt lãi: 1.664.769 đồng, phạt gốc: 31.825.068 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Trương Minh S và Sơn Thị L phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 248/22/HĐTD/2101-7768 ngày 07/6/2022, kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông Trương Minh S và Sơn Thị L trả hết nợ gốc cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K.

Trường hợp ông Trương Minh S và Sơn Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần K nhưng ông S và bà L không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông S và bà L và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trương Minh S liên đới cùng Sơn Thị L trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 144.858.605 đồng (trong đó: Nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi: 11.368.767 đồng, phạt lãi: 1.664.769 đồng, phạt gốc: 31.825.068 đồng) và ông S, bà L phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Trương Minh S và Sơn Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Trương Minh S và Sơn Thị L có địa chỉ tại ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L tại Hợp đồng tín dụng số 248/22/HĐTD/2101-7768 ngày 07/6/2022 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 11,1%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông S, bà bà L còn nợ lại tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L thanh toán nợ nhưng ông S, bà L không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông S, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 30/9/2024 số tiền là 144.858.605 đồng (trong đó: Nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi: 11.368.767 đồng, phạt lãi: 1.664.769 đồng, phạt gốc: 31.825.068 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 248/22/HĐTD/2101-7768 ngày 07/6/2022 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K, ông Trương Minh S và Sơn Thị L đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 183/17/HĐTC-BĐS/2101-2922 ngày 26/6/2017, dùng tài sản là thửa số 426, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Sơn Thị L ngày 05/5/2017 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thế chấp nêu trên hiện có tồn tại 01 căn nhà cấp 4 của ông Trương Minh S và Sơn Thị L có kết cấu: Mái tôn, vách tường, nền lót gạch ceramic, có chiều ngang 4m, chiều dài 20m, phần còn lại là đất trống. Toàn bộ thửa đất nêu trên bà Trương Thị L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông S, bà L1 đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 183/17/HĐTC-BĐS/2101-2922 ngày 26/6/2017, được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Trương Minh S và Sơn Thị L liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Trương Minh S và Sơn Thị L phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L.

    Buộc ông Trương Minh S và Sơn Thị L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 144.858.605 đồng (trong đó: Nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi: 11.368.767 đồng, phạt lãi: 1.664.769 đồng, phạt gốc: 31.825.068 đồng). Ông Trương Minh S và Sơn Thị L phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 248/22/HĐTD/2101-7768 ngày 07/6/2022 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Trương Minh S và Sơn Thị L không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và ông Trương Minh S, Sơn Thị L có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 426 (mục đích sử dụng: Đất trồng lúa nước còn lại), diện tích 8.470,9m² thuộc tờ bản đồ số 6 tọa lạc khóm ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 694137 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho bà Sơn Thị L ngày 05/5/2017 và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 của ông Trương Minh S và Sơn Thị L có kết cấu: Mái tôn, vách tường, nền lót gạch Ceramic, có chiều ngang 4m, chiều dài 20m để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 183/17/HĐTC-BDS/2101-2922 ngày 26/6/2017.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Trương Minh S và Sơn Thị L thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng thương mại Cổ phần K phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    • 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      - Bị đơn ông Trương Minh S và Sơn Thị L liên đới chịu 7.242.930 đồng.

      - Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.809.563 đồng theo biên lai thu số 0003078 ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

    • 3.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Trương Minh S và Sơn Thị L liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Trương Minh S và Sơn Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 750.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 192/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger