Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/DS-ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng, Ông Phạm Tiến Lợi

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 123/2024/TLST-DS ngày 04/7/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B (B1); Địa chỉ: số A phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T1- Giám đốc khối quản lý rủi ro. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Dương Khánh H.

2. Bị đơn:

2.1 Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986

2.2 Ông Trần Cao T3, sinh năm: 1976

Trú tại: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội

Tại phiên tòa có mặt ông H, bà T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Trong đơn khởi kiện nộp tại Tòa án và quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

1. Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ:

Bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 vay vốn tại Ngân hàng TMCP B (B1) theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ như sau:

  • + Hợp đồng cấp tín dụng số 400/2019/HĐTD2/BVB0037 ngày 27/05/2019; Khế ước nhận nợ số 400/2019/KUNN2/BVB0037 ngày 27/05/2019;
  • + Số tiền vay: 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng chẵn)
  • + Thời hạn vay: 240 tháng, từ ngày 2705/2019
  • + Mục đích sử dụng vốn: vay bù đắp mua BĐS.

Lãi suất cho vay bằng 10%/năm trong 12 tháng đầu tiên. Lãi suất các kỳ sau được xác định bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng (loại trả lãi sau) do B1 công bố cộng biên độ tối thiểu 4,5%/năm. Lãi suất các kỳ sau được điều chỉnh 6 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết với B1. Bà T2, ông T3 đã thanh toán số tiền là 33.491.274 đồng, trong đó nợ gốc: 6.666.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 26.651.329 đồng, nợ lãi quá hạn là 71.226 đồng, lãi chậm trả là 102.719 đồng.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông bị đơn phải trả cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/09/2024 là: 2.950.333.426 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.593.334.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 610.375.876 đồng, nợ lãi quá hạn là 548.121.942 đồng, lãi chậm trả là 198.501.608 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 vợ chồng bà T2 và ông T3 tiếp tục chịu lãi và lãi quá hạn đối với số tiền gốc còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, các bên đã ký kết hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng số: 2917.2019, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/05/2019 giữa bà Nguyễn Thị T2 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B, do Văn phòng C.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 19(1), tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: ngách H ngõ B đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 723182, số vào sổ cấp GCN: CH 00046 do UBND thị xã S, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/03/2012; ngày 08/05/2019 chi nhánh thị xã S – Văn phòng Đ xác nhận sang tên cho bà Nguyễn Thị T2.

Nguyên đơn khẳng định việc ký Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên là đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp bà T2, ông T3 không trả được nợ, Nguyên đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp các bên đã ký kết.

II. Bị đơn bà T2, ông T3 trình bày:

1. Về nghĩa vụ trả nợ:

Bà T2 xác nhận vào năm 2019 có ký kết hợp đồng tín dụng để vay vốn tại ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ như ngân hàng trình bày.

Sau khi vay vốn thì bà T2, ông T3 có trả được ngân hàng một phần nợ cụ thể đã trả 33.491.274 đồng, trong đó nợ gốc: 6.666.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 26.651.329 đồng, nợ lãi quá hạn là 71.226 đồng, lãi chậm trả là 102.719 đồng .

Xác nhận còn nợ ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 24/09/2024 là: 2.950.333.426 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.593.334.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 610.375.876 đồng, nợ lãi quá hạn là 548.121.942 đồng, lãi chậm trả là 198.501.608 đồng.

2. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Bị đơn xác nhận để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng trên, Các bên có ký hợp đồng thế chấp tài sản. Theo đó, ông bà có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 19(1), tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: ngách H ngõ B đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 723182, số vào sổ cấp GCN: CH 00046 do UBND thị xã S, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/03/2012; ngày 08/05/2019 chi nhánh thị xã S – Văn phòng Đ xác nhận sang tên cho bà Nguyễn Thị T2.

Quan điểm bà T2 trình bày năm 2021 thì bà T2 đã trao đổi báo ngân hàng về việc ông không có khả năng trả nợ. Đề nghị ngân hàng phát mại thửa đất thế chấp để thu hồi tiền cho ngân hàng nhưng ngân hàng không thực hiện. Do đó, bà T2 giữ nguyên quan điểm đề nghị ngân hàng tiến hành thanh lý, phát mại thửa đất để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát huyện C thể hiện quan điểm:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.Các đương sự đã được Tòa án yêu cầu tham gia đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ;

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phân yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể:

  • - Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 24/09/2024 là: Nợ gốc: 1.593.334.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 610.375.876 đồng, nợ lãi quá hạn: 548.121.942 đồng.
  • - Không chấp nhận yêu cầu đối với phần lãi phạt chậm trả là: 198.501.608 đồng
  • - Xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành.
  • - Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn là bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 cư trú tại: Thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội; Việc Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thời điểm giao kết HĐTD, HĐTCTS, Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực pháp luật nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết tranh chấp.

[2] Về nội dung.

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1.1 Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 400/2019/HĐTD2/BVB0037 ngày 27/05/2019; Khế ước nhận nợ số 400/2019/KUNN2/BVB0037 ngày 27/05/2019. Số tiền ngân hàng cho vợ chồng bà T2, ông T3 vay 1.600.000.000 đồng. Nội dung của Hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật.

Xác định 400/2019/HĐTD2/BVB0037 ngày 27/05/2019; Khế ước nhận nợ số 400/2019/KUNN2/BVB0037 ngày 27/05/2019 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng.

2.1.2. Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc, lãi phát sinh của nguyên đơn:

Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP B đã giải ngân cho bà T2 ông T3 vay đủ số tiền 1.600.000.000 đồng, bị đơn đã nhận đủ thông qua khế ước. Như vậy Ngân hàng TMCP B đã thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, bà T2 và ông T3 chỉ trả được: 33.491.274 đồng, trong đó nợ gốc: 6.666.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 26.651.329 đồng, nợ lãi quá hạn là 71.226 đồng, lãi chậm trả là 102.719 đồng. Đến nay bà T2, ông T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các kỳ trả nợ quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết và vẫn chưa thanh toán hết khoản vay trên. Như vậy bà T2, ông T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng.

Đối với nội dung trình bày của bà T2 cho rằng từ năm 2021 có đề nghị ngân hàng cho trả gốc và tất toán khoản vay. Xét thấy không có tài liệu nào thể hiện việc bà T2 đã làm việc thời điểm năm 2021 với ngân hàng. Do hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên là tự nguyện, không bị ai ép buộc, trong hợp đồng đã

thể hiện rõ quy định về lãi suất trong hạn, quá hạn nên việc ngân hàng giữ quan điểm đề nghị bị đơn phải trả gốc, lãi theo hợp đồng đã ký là có cơ sở.

Đối với khoản tiền lãi phạt chậm trả HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối Cao. Điểm f mục 1, điểm c, mục 2, Điều 3 của Hợp đồng tín dụng, yêu cầu của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do đó Ngân hàng TMCP B khởi kiện đề nghị buộc bà T2, ông T3 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo đó, buộc bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP B toàn bộ số tiền còn nợ cả gốc và lãi phát sinh của khoản vay tính đến ngày 24/09/2024 là: 2.950.333.426 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.593.334.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 610.375.876 đồng, nợ lãi quá hạn là 548.121.942 đồng, lãi chậm trả là 198.501.608 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 bà T2, ông T3 phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản.

Xét: hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng số: 2917.2019, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/05/2019 giữa bà Nguyễn Thị T2 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B, do Văn phòng C công chứng giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Trần Cao T3 với Ngân hàng TMCP B. Được đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ huyện C. Theo đó tài sản đảm bảo cho khoản vay của bà T2, ông T3 là: quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 19(1), tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: ngách H ngõ B đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 723182, số vào sổ cấp GCN: CH 00046 do UBND thị xã S, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/03/2012; ngày 08/05/2019 chi nhánh thị xã S – Văn phòng Đ xác nhận sang tên cho bà Nguyễn Thị T2.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp thì không bị ai ép buộc và trực tiếp ký. Hội đồng xét xử xác định: Các bên khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật

và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy: Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó trường hợp bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 19(1), tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: ngách H ngõ B đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 723182, số vào sổ cấp GCN: CH 00046 do UBND thị xã S, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/03/2012; ngày 08/05/2019 chi nhánh thị xã S – Văn phòng Đ xác nhận sang tên cho bà Nguyễn Thị T2 xác nhận chuyển nhượng toàn bộ cho bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi khoản nợ.

[3] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 thì:

  • - Bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
  • - Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 317, 318, 385, 398, 401, 463,466, 468 khoản 1 Điều 292, 293, 295, 298 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ khoản 7 Điều 113, Điều 130 Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ các Điều: 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai năm 2003; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối Cao. Căn cứ Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
  2. Về trách nhiệm trả nợ: Buộc bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày 24/09/2024 là: 2.950.333.426 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.593.334.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 610.375.876 đồng, nợ lãi quá hạn là 548.121.942 đồng, lãi chậm trả là 198.501.608 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 bà T2, ông T3 phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

  1. Về xử lý tài sản thế chấp:
  2. 3.1. Trường hợp bà T2 và ông T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán xong khoản nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại khối tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 19(1), tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: ngách H ngõ B đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 723182, số vào sổ cấp GCN: CH 00046 do UBND thị xã S, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/03/2012; ngày 08/05/2019 chi nhánh thị xã S – Văn phòng Đ xác nhận sang tên cho bà Nguyễn Thị T2.

    3.2. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà T2 và ông T3 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  3. Về án phí:
  4. 4.1. Bà Nguyễn Thị T2 và ông Trần Cao T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 91.006.669 đồng.

    4.2. Trả lại Ngân hàng TMCP B 43.672.983 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0002199/BLTU/23 ngày 03/7/2024

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7và 9 Luật

thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - THA huyện Chương Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 192/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger