Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/HS-ST

Ngày: 15/4/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Loan
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đào Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 208/ 2024/ HSST ngày 13/3/ 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/QĐXXST- HS ngày 01/4/ 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn T; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 2004; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tiểu khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Văn H; Sinh năm: 1979; Con bà: Lê Thị L; Sinh năm 1981; Tiền án, tiền sự: Không;

    Tạm giữ từ ngày 21/10/2023, đến ngày 30/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T.

  2. Lê Trung K; Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1998; Nơi cư trú: SN 29 Ngõ N, phường N, Thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Công N - Đã chết; Con bà: Trần Thị H1 -Sinh năm: 1971;Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ từ ngày 21/10/2023, đến ngày 30/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T.

  3. Lê Sỹ S; Sinh ngày 27 tháng 01 năm 2004; Nơi cư trú: Tiểu khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Sỹ H2; Sinh năm 1972; Con bà: Lê Thị T1; Sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ từ ngày 21/10/2023, đến ngày 30/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T.

- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn T và bị cáo Lê Sỹ S:

Luật sư Lê Quốc H3 và Luật sư Trịnh Thị T2 – Văn phòng Luật sư Lê Quốc H3,

Địa chỉ: SN D đường H, Phường B, Thành phố T

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn C, sinh năm 2005;
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

  3. Đỗ Trọng T3, sinh năm 2005
  4. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

  5. Lê Hữu huy, sinh năm 2004
  6. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

  7. Nguyễn Quốc A, sinh năm 2002
  8. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;

  9. Lê Văn N1, sinh năm 2004
  10. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo; Luật sư Trịnh Thị T2. Vắng mặt Luật sư Lê Quốc H3 và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00h30' ngày 21/10/2023, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố T tiến hành kiểm tra quán bar J có địa chỉ tại tầng 3, tòa nhà A L, P. L, TP T, phát hiện tại bàn C7 có 10 nam thanh niên gồm: Lê Trung K; Lê Sỹ S; Trần Văn T cùng với Trần Văn C1, sinh ngày 11/7/2002, trú tại Tiểu khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Đỗ Trọng T3, sinh ngày 07/7/2005, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Lê Hữu H4, sinh ngày 09/10/2004, trú tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Lê Ngô Văn K1, sinh ngày 09/02/2004, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Văn C, sinh ngày 03/10/2005, trú tại Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Lê Văn N1, sinh ngày 20/6/2004, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 29/7/2002, trú tại khu phố T, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Qua kiểm tra, tổ công tác không phát hiện, thu giữ đồ vật liên quan đến ma túy. Tại chỗ, Lê Trung K, Lê Sỹ S, Trần Văn T, Đỗ Trọng T3, Lê Hữu H4, Nguyễn Văn C, Lê Văn N1, Nguyễn Quốc A thừa nhận vừa có hành vi sử dụng chất ma túy loại thuốc lắc tại bàn C7. Trần Văn C1Lê Ngô Văn K1 khai không sử dụng ma túy và không biết những người khác sử dụng ma túy tại bàn C7. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Trung K, Lê Sỹ S, Trần Văn T đã xin đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại bàn C7, quán bar J và khai nhận: Tối ngày 20/10/2023, Trần Văn T tổ chức sinh nhật, ăn uống tại một nhà hàng ở huyện T. T có mời bạn bè tham gia gồm: Lê Sỹ S, Đỗ Trọng T3, Lê Hữu H4, Lê Ngô Văn K1, Nguyễn Văn C, Trần Văn C1; Nguyễn Quốc A. Ăn uống xong thì mọi người rủ nhau xuống Thành phố T đi quán bar để nghe nhạc, uống rượu. T gọi điện thoại cho bạn là Lê Trung K ở thành phố T nhờ K đặt bàn ở quán bar J và nhờ K mua ma túy ( thuốc lắc) cho T cùng bạn bè sử dụng. K đồng ý và điện thoại cho Lê Mạnh C2 là quản lý quán J đặt bàn rượu tại vị trí bàn C7, sau đó K đi sang khu mặt bằng 08 ( gần cầu vượt đường T, phường N) mua 07 viên thuốc lắc với giá 2.600.000 đồng của một người phụ nữ ( K không rõ tên tuổi, địa chỉ). Mua xong, K điện thoại nói T chuyển số tiền 2.600.000 đồng mua ma túy cho K, sau đó K đi taxi đến trước quán J ( số A L) thì gặp S đứng đón, khi S và K lên tầng 3, vào trong khu T, K đưa cho S 07 viên ma túy và cùng S vào ngồi tại bàn C7; S đưa cho K, T3, C1 và C mỗi người 01 viên ma túy, K bẻ đôi viên ma túy, sử dụng một phần bằng cách uống với nước giải khát Cocacola, phần còn lại K đưa cho S. Sang để số ma túy còn lại trên ghế sofa ngay sau lưng S ngồi. Lúc sau thì có T, H4, K1, N1, Quốc A đến thì S đưa thuốc lắc ra mời T, H4, N1, Quốc A sử dụng. Những người này đã sử dụng thuốc lắc bằng cách uống cùng cocacola. Riêng C1 và K1 do uống rượu say nên nằm ngủ và không sử dụng ma túy.

Tại Bản kết luận giám định 3942/KL-KTHS ngày 30/10/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh T Kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Lê Trung K, Lê Sỹ S, Trần Văn T, Đỗ Trọng T3, Lê Hữu H4, Nguyễn Văn C, Lê Văn N1, Nguyễn Quốc A; Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Trần Văn C1Lê Ngô Văn K1.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, gắn số thuê bao 0385961329; thu giữ của Lê Trung K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, gắn số thuê bao 0942915636; thu giữ của Lê Sỹ S và 01 điện thoại di động OPPO 11 gắn số thuê bao 0971015526. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi Hành Án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 125/2024/THA ngày 14/3/2024 giữa Công an thành phố T với chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Tại bản cáo trạng số 140/CTr-VKS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố các bị cáo Trần Văn T; Lê Trung KLê Sỹ S về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáoTrần Văn T4, Lê Trung KLê Sỹ S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Khoản 1, Đ a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016.

Đề nghị HĐXX tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T; Lê Trung KLê Sỹ S phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với các bị cáo:

Trần Văn T: Từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù;

Lê Trung K; Lê Sỹ S: Từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng;

Về Vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 03 điện thoại di động thu của các bị cáo vì đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn TLê Sỹ S:

Về tội danh và điều luật truy tố Luật sư không có ý kiến gì khác. Nhưng về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Trần Văn T, Lê Sỹ S là quá nghiêm khắc so với hậu quả mà hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Do đó đề nghị HĐXX xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Trần Văn T, Lê Sỹ S như sau:

Từ khi lập biên bản sự việc đến tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đầu Thú; Có ông, bà là người có công với cách mạng; Tích cực tham gia hoạt động tại địa phương để cho bị cáo Trần Văn TLê Sỹ S được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo khác không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 0h30' ngày 21/10/2023, tại bàn C7, tầng 3, quán J (số A L, phường L, thành phố T). Trần Văn T, Lê Trung KLê Sỹ S đã có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho nhau và cho Đỗ Trọng T3, Lê Hữu H4, Nguyễn Văn C, Lê Văn N1Nguyễn Quốc A cùng sử dụng, bị Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra, tội phạm về ma túy, Công an thành phố T phát hiện và bắt giữ. Kết quả xét nghiệm nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Trung K, Lê Sỹ S, Trần Văn T, Đỗ Trọng T3, Lê Hữu H4, Nguyễn Văn C, Lê Văn N1, Nguyễn Quốc A dương tính với các chất ma túy MDMA, Methamphetamine.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của các bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ” tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự .

Vì vậy viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS và là một trong những tác nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất Matuý của nhà nước, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo sự lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS; vai trò và hình phạt của các bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử các bị cáo “ Thành khẩn khai báo”; Đầu thú.

Bị cáo Lê Sỹ S có bà nội, bà ngoại tham gia nhiệm vụ trong thời kỳ kháng chiến và có ông bác là Liệt sĩ.

Bị cáo Trần Văn T có ông bà nội, ngoại là người có công với cách mạng và ông ngoại là Thương binh. Bản thân tích cực tham gia các phong trào tại địa phương và tham gia hoạt động tuyên truyền phòng chống đại dịch CoV 19.

Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điếm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

  • Về vai trò: Trong vụ án này các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự phân công vai trò, bàn bạc và cấu kết chặt chẽ với nhau, nên chỉ ở dạng đồng phạm giản đơn.

Bị cáo Trần Văn T là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy, điện thoại cho K mua ma túy, thuê phòng, đồng thời điện thoại cho S đón K lấy ma túy đưa cho mọi người sử dụng và cũng là người trả tiền mua ma túy và tiền phòng. Do đó bị cáo Trần Văn T có vai trò cao hơn các bị cáo Lê Trung KLê Sỹ S. Bị cáo Lê Sỹ S có vai trò thấp hơn các bị cáo Trần Văn TLê Trung K.

Về hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Do các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm, nên cần áp dụng Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng:

Đối với 03 điện thoại di động thu giữ của Trần Văn T ; Lê Trung KLê Sỹ S có liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng Khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Khoản 1; Điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Đ a Khoản 1 Điều 23; NQ 326/ 2016/ UBTVQH14.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T; Lê Trung KLê Sỹ S phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Trần Văn T: 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2023 ( ngày tạm giữ).

Lê Trung K: 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2023 (ngày tạm giữ).

Lê Sỹ S: 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2023 ( ngày tạm giữ).

Vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, gắn số thuê bao 0385961329 thu giữ của bị cáo Trần Văn T ;

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, gắn số thuê bao 0942915636 thu giữ của Lê Trung K;

01 điện thoại di động OPPO 11 gắn số thuê bao 0971015526 thu giữ của Lê Sỹ S.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi Hành Án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 125/2024//THA ngày 14/3/2024 giữa Công an thành phố T với chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Các bị cáo Trần Văn T; Lê Trung KLê Sỹ S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

  1. Bà Nguyễn Thị L1
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh T5

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị H5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 192/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger