Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/HS-ST

Ngày 19-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Kim Lý;
  2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát đưa ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 187/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh năm 1997 tại tỉnh Đắk Nông; hộ khẩu thường trú: nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và bà Triệu Thị H1, sinh năm 1971; bị cáo có vợ tên Phạm Thị T, sinh năm 1997 và 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Thị B, sinh năm 1961; nơi thường trú tại: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1970; nơi thường trú tại: Tổ C, ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: Nhà T, khu A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Dương Văn H2, sinh năm 1993; thường trú tại: Bon Bu N'Dor B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nơi ở: Công ty V, tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh H được Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe hạng C số [...] ngày 07/6/2023, có giá trị đến ngày 07/6/2028 và H làm nghề lái xe ô tô tải thuê cho ông Dương Văn H2.

Sáng ngày 23/7/2023, H điều khiển xe ô tô tải biển số 48H-002.63 đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Đắk Nông để giao hàng. Đến khoảng 07 giờ 05 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường DT741 thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, H điều khiển xe chạy trên làn ô tô tải theo hướng từ ngã ba L đến ngã tư H thì nhìn thấy bà Thị B đang đi bộ băng qua đường từ lề phải sang lề trái theo hướng xe ô tô biển số 48H-002.63 lưu thông. Lúc này, bà B đã đi bộ đến làn đường xe mô tô và cách xe ô tô tải biển số 48H-002.63 khoảng 20 m – 30 m. H nghĩ bà B nhìn thấy xe sẽ đứng lại nhường đường nên H không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy bình thường. Khi H điều khiển xe chạy còn cách bà B khoảng 10 m thì thấy bà B không dừng lại mà tiếp tục đi qua làn đường ô tô tải nên H mới đạp thắng xe và đánh lái qua bên trái sang làn đường ô tô con nhưng không tránh được mà đụng trúng bà B gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm bà B ngã xuống đường bất tỉnh. Sau đó, bà B được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu nhưng đến ngày 29/7/2023 thì chết.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:

  • - Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng có dãy phân cách cố định chia mặt đường thành 02 phần đường, phần đường xảy ra tai nạn có vạch kẻ đường được chia thành 03 phần đường, mặt đường rộng 10,8 m được trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất.
  • - Lấy mép đường bên phải theo hướng từ ngã ba L đến ngã tư H làm mép đường chuẩn.
  • - Xe ô tô tải biển số 48H-002.63: Tâm trục bánh trước phía bên phải cách lề chuẩn là 6,2 m; tâm trục bánh sau phía bên phải cách lề chuẩn là 6,5 m.
  • - T2 vết máu trên đường cách lề chuẩn là 9,2m và cách tâm trục bánh trước phía bên trái của xe ô tô là 2,2 m, cách tâm trục bánh sau phía bên trái của xe ô tô là 3 m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô tải biển số 48H-002.63, xác định: Hệ thống phanh, đèn vẫn hoạt động. Cảng kim loại phía trước có dấu vết va chạm bị thụng mốp từ ngoài vào trong. Kim loại mặt phía trước đầu xe có dấu vết va chạm bị thụng mốp từ ngoài vào trong. Kim loại cảng phía bên trái có vết màu đỏ cách mặt đường 0,7m và dài 0,5 m.

Theo Kết luận giám định tử thi số 602 ngày 02/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Thị B là do đa chấn thương.

Về vật chứng thu giữ:

01 xe ô tô tải biển số 48H-002.63 thuộc quyền sở hữu là ông Dương Văn H2, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 48H-002.63 của ông Dương Văn H2; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] của Nguyễn Minh H; 01 USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 (nay là thành phố) B xử lý vật chứng giao trả xe ô tô tải biển số 48H-002.63 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe cho chủ sở hữu là ông Dương Văn H2; 01 USB chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông được lưu tại hồ sơ vụ án; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] chuyển qua Cơ quan thi hành án dân sự theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 09/10/2023, Nguyễn Minh H và ông Dương Văn H2 cùng nhau thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng cho bà Trần Thị T1, là người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Bà T1 không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Trong quá trình điều tra;

  • - Bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Tai nạn xảy ra làm bà B chết. Sau tai nạn, bị cáo H cùng với chủ xe là ông H2 đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000000 đồng.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Trần Thị T1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị cáo H về hành vi gây tai nạn làm bà B chết. Sau tai nạn bị cáo H và ông H2 đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng, gia đình bị hại không có yêu cầu gì và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn H2 trình bày: Xe ô tô tải biển số 48H-002.63 do ông đứng tên đăng ký và ông có thuê bị cáo H chạy xe thuê cho ông. Sau khi H gây tai nạn làm bà B chết, ông và H đã bồi thường cho gia đình bà B số tiền 60.000.000 đồng. Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 (nay là thành phố) B xử lý vật chứng giao trả xe ô tô biển số 48H-002.63 và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 48H-002.63 cho ông. Trong vụ án này, ông không có yêu cầu gì.

Tại Cáo trạng số 194/CT-VKSBC ngày 18/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa;

  • - Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bà Thị B đã nhận số tiền 60.000.000 đồng, do bị cáo H và ông H2 bồi thường và không đặt ra xử lý.

  • - Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 48H-002.63; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 48H-002.63, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C2 (nay là thành phố) Bến C1 đã trả cho ông Dương Văn H2 nên không đặt ra xử lý.

Đối với Giấy phép lái xe hạng C số [...], cần trả lại cho bị cáo H.

  • - Bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng truy tố, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 (nay là thành phố) B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận: Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 23/7/2023, tại đoạn đường DT744 thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Minh H có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 48H-002.63 theo hướng từ ngã ba L đến ngã tư H, nhìn thấy bà Thị B đang đi bộ băng qua đường từ lề phải sang lề trái theo hướng xe lưu thông nhưng không giảm tốc độ nhường đường, dẫn đến va chạm làm bà B ngã xuống đường bất tỉnh. Sau đó, bà B được người dân đưa đi bệnh viên cấp cứu nhưng đến ngày 29/7/2023 thì chết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Sơ đồ hiện trường, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Do đó, hành vi của

bị cáo H đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng với Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng của bà Thị B, nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng với chủ xe là ông Dương Văn H2 đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền 60.000.000 đồng; đại diện gia định bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[4] Xét thấy, việc bị cáo gây tai nạn làm bà Thị B chết tại chỗ không giảm tốc độc và nhường đường cho người đi bộ, đây là lỗi hoàn toàn của bị cáo, nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Đồng thời, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

  • - Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 48H-002.63; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 48H-002.63, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C2 (nay là thành phố) Bến C1 đã trả cho ông Dương Văn H2 nên không đặt ra xử lý.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...], do không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần trả lại cho bị cáo H.

  • - Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bà Thị B đã nhận số tiền 60.000.000 đồng, do bị cáo H và ông H2 bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

Ghi nhận ông H2 không yêu cầu gì đối với số tiền 60.000.000 đồng ông cùng bị cáo H bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại.

[6] Xét mức hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo H là phù hợp, nên chấp nhận; tuy nhiên đối với đề nghị cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 136 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 120/L-TABC ngày 18/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh H với thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

2. Về biện pháp tư pháp:

  • - Về xử lý vật chứng:

Trả cho bị cáo Nguyễn Minh H 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...]

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 48H-002.63; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 48H-002.63 đã trả cho ông Dương Văn H2, nên không đặt ra xử lý.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/7/2024).

  • - Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bà Thị B đã nhận số tiền 60.000.000 đồng, do bị cáo Nguyễn Minh H và ông Dương Văn H2 bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

Ghi nhận ông Dương Văn H2 không yêu cầu gì đối với số tiền 60.000.000 đồng ông cùng bị cáo Nguyễn Minh H bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát.
  • - CQĐT CA thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tô tụng;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Cẩm Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 192/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger