|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 192/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 6 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Mai Khanh
- Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- - Bị đơn: Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: khối B (khối 7 cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan, không rõ địa chỉ cụ thể. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2023, bản tự khai ngày 06/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm rạn nứt. Năm 2020 anh P đi xuất khẩu lao động tại đất nước Đài Loan, vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn P. Tuy nhiên, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Hoàng Văn P tại Đài Loan mà chỉ biết anh P thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Dương Thị T1, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: khối B (khối G cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An và bà T1 biết địa chỉ cụ thể của anh P tại Đài Loan nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn P có hai con chung là cháu: Hoàng Mạnh H1, sinh ngày 16/8/2009 và cháu Hoàng Như Ý, sinh ngày 09/6/2017. Hiện nay, hai cháu đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Hoàng Văn P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn là anh Hoàng Văn P vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 2799/QLXNC-P3 ngày 01 tháng 2 năm 2024 của Cục Q – Bộ C thì: “Trường hợp Hoàng Văn P, sinh ngày 08/08/1986 tại Nghệ An, CMND số [...] khai hộ khẩu thường trú tại: N, C, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 14 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số C8971726 để xuất cảnh ngày 10/02/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh P ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử,... nhưng anh P vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại “Biên bản xác minh" ngày 10/5/2024 bà Dương Thị T1 (mẹ đẻ anh Hoàng Văn P) trình bày: Anh Hoàng Văn P là con trai của bà, hiện đang sinh sống và làm ăn tại đất nước Đài Loan, địa chỉ cụ thể như thế nào bà không biết rõ. Anh P có liên lạc về với gia đình bằng điện thoại và mạng xã hội. Bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của Toà án và đã thông báo cho anh P được biết về việc ly hôn với chị Nguyễn Thị H nhưng anh P không cung cấp địa chỉ của anh P tại Đài Loan và không có ý kiến gì về việc giải quyết ly hôn nên bà T1 không thể cung cấp địa chỉ của anh P tại Đài Loan cho Toà án được. Bà T1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn P.
- + Về con chung: Giao hai cháu Hoàng Mạnh H1, sinh ngày 16/8/2009 và cháu Hoàng Như Ý, sinh ngày 09/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Văn P do chị H chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 06/9/2023 chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hoàng Văn P. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Nguyễn Thị H có nơi đăng ký thường trú tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An còn anh Hoàng Văn P có nơi đăng ký thường trú tại khối B, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Theo lời khai của chị Nguyễn Thị H thì anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2020, tuy nhiên qua kết quả xác minh tại Cục Q – Bộ C theo Công văn số 2799/QLXNC-P3 ngày 01 tháng 2 năm 2024 thì lần cuối anh Hoàng Văn P sử dụng Hộ chiếu số C8971726 để xuất cảnh ngày 10/02/2023 qua cửa khẩu N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Hoàng Văn P mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Văn P hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tại khối B, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh P tại nước ngoài nhưng theo bà Dương Thị T1 (mẹ đẻ của anh P) thì anh P vẫn thường xuyên liên lạc với bà T1 và gia đình qua điện thoại và mạng xã hội; bà T1 đã thông tin cho anh P được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh P tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị H nhưng anh P vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn P.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm nhau về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh P lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài, anh P đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm nay, cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53,56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P có hai con chung là cháu: Hoàng Mạnh H1, sinh ngày 16/8/2009 và cháu Hoàng Như Ý, sinh ngày 09/6/2017. Hiện nay hai con đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh Hoàng Văn P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Mặt khác, anh P đang ở nước ngoài, bà T1 (mẹ anh P) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh P tại nước ngoài và anh P cũng không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị H. Vì vậy, cần giao cả hai cháu cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu nhưng không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh P cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn P.
- Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Hoàng Mạnh H1, sinh ngày 16/8/2009 và Hoàng Như Ý, sinh ngày 09/6/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu và anh Hoàng Văn P chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.
Anh Hoàng Văn P có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Hoàng Văn P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn P không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012689 ngày 27/2/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 192/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 192/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị H và anh P
