Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-5-2024

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tới.

Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lâm Văn P, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thu Y, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Lâm Văn P và quá trình tố tụng tại Tòa án anh P trình bày: Anh và chị Nguyễn Thu Y tự nguyện kết hôn vào năm 2018, không đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải và không giải quyết được nên tự sống riêng với nhau, do không hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Y.

Về con chung của anh và chị Y có một người tên Lâm Trọng N, sinh ngày 11/10/2019 đang ở với chị Y, sau khi ly hôn anh chấp nhận để con cho chị Y nuôi và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị vắng mặt.

Đối với chị Nguyễn Thu Y đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Lâm Văn P được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thu Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lâm Văn P và chị Nguyễn Thu Y được xác lập vào năm 2018 nhưng không đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết. Do quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị Y không đăng ký theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận anh P và chị Y là vợ chồng.

[4] Về con chung: Anh P và chị Y có một người con chung tên Lâm Trọng N, sinh ngày 11/10/2019 đang ở với chị Y, sau khi ly hôn anh P thống nhất để con cho chị Y nuôi trong khi đó chị Y vắng mặt và không có ý kiến gì về phần con chung. Để không làm xáo trộn môi trường sống của con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho chị Y nuôi.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng Lâm Trọng N, sinh ngày 11/10/2019 là con chung của anh P và chị Y nên anh P và chị Y phải cùng có trách nhiệm, anh P không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa anh P đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, trong khi đó chị Y vắng mặt không có ý kiến yêu cầu gì, xét nhu cầu thiết yếu của việc nuôi con nên buộc anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh P phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản: Đương sự không có yêu cầu về phần tài sản nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Anh Lâm Văn P là nguyên đơn trong vụ án ly hôn và có nghĩa vụ cấp dưỡng nên anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí anh P đã nộp được khấu trừ.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Không công nhận anh Lâm Văn P và chị Nguyễn Thu Y là vợ chồng.

Về con chung: Chị Nguyễn Thu Y nuôi con tên Lâm Trọng N, sinh ngày 11/10/2019 đang ở với chị Y, buộc anh Lâm Văn P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi.

Kể từ khi chị Y có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh P chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh P còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Y.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên anh P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và chị Y có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) anh Lâm Văn P phải chịu 300.000 đồng, anh P đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004451 ngày 30/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Lâm Văn P phải chịu 300.000 đồng.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 192/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mâu thuẫn dẫn đến ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger