TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 192/2024/HS-PT Ngày: 08 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
- Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
- Ông Vũ Thế Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 460/2023/HS-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023; do có kháng cáo của các bị cáo Lê Trọng H và các bị cáo khác đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 151/2023/HS-ST ngày 14-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành;
Bị cáo có kháng cáo:
- Lê Trọng H (tên gọi khác: M), sinh năm 1991 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C, Tổ D, Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị T; có vợ nhưng đã ly hôn năm 2013 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 13/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã chấp hành xong ngày 30/8/2013).
- + Ngày 21/02/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 15 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 (chấp hành xong ngày 20/11/2017).
Bị tạm giam từ ngày 09/01/2023 đến 17/5/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Trần Huy L, sinh 1999 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ A, Ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Huy Đ và bà Âu Thị M1; có vợ và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/01/2022, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; ngày 21/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành ra Quyết định đình chỉ vụ án và đình chỉ bị cáo đối Trần Huy L do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố; bị tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến 11/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Biện Văn Đ1, sinh 1997 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ D, Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Biện Văn C và bà Trần Thị P; có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/12/2022 đến 01/01/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Lê Quang T1 (tên gọi khác: T2), sinh 1997 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ E, Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang H1 (đã chết) và bà Trần Thị M2; có vợ tên Nguyễn Thị Lệ T3 sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Lê Trung T4, sinh 1994 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ D, Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Văn H2 và bà Nguyễn Thị Thanh T5; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Nguyễn Thành P1, sinh 1984 tại Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành P2 và bà Phan Thị L1; có vợ và có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/12/2022 đến 11/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Nguyễn Duy V, sinh 1997 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T6 và bà Vũ Thị K1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến 11/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Phan Thành N (tên gọi khác: L2), sinh 1986 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ D, Ấp D, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1; có vợ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến 11/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trọng H và Trần Huy L cùng ngụ Ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do sắp đến giải bóng đá Fifa W 2022, H bàn bạc với L tìm người tham gia cá độ bóng đá cho H, H thỏa thuận cứ mỗi người chơi tham gia cá cược bóng đá thì L được hưởng hoa hồng số tiền 20.000 đồng/1.000.000 đồng tham gia cá cược; dù thắng hay thua thì L vẫn được số tiền hoa hồng. Trước mỗi trận đấu thì H sẽ gửi thông tin tên trận đấu, tỉ lệ cá cược cho L từ số điện thoại của H có số thuê bao 0981662772 qua tin nhắn điện thoại di động của L có số thuê bao 0967248215. Sau đó, L sẽ gửi lại thông tin các trận đấu, tỉ lệ cá cược cho những người mà L quen biết để những ai có nhu cầu cá độ sẽ nhắn tin lại cho L. Những người tham gia cá cược sẽ nhắn tin với nội dung chọn đội, tỉ lệ cá cược và số tiền cá cược thắng thua cho L. Sau đó, L sẽ gửi lại toàn bộ thông tin người chơi tham gia cá cược lại cho H để H quản lý, hoặc H cho L số điện thoại kèm theo tên khách tham gia cá cược để L tự liên hệ; sau đó L nhắn tin gửi thông tin tên trận đấu, tỉ lệ cá cược cho những người này và những người này gửi lại nhắn tin với nội dung chọn đội, tỉ lệ cá cược và số tiền cá cược thắng thua gửi lại cho L. Sau khi kết thúc mỗi trận đấu, L là người trực tiếp tính tiền thắng thua với những người tham gia cá cược rồi trực tiếp lấy số tiền thua của người chơi và trả tiền cho người thắng, nếu thắng thì L tính toán số tiền hoa hồng của L được hưởng rồi chuyển số tiền còn lại cho H, nếu số tiền bị thua thì L tính toán số tiền hoa hồng mà L được hưởng và cộng thêm số tiền thua rồi báo H chuyển tiền cho L để L trả tiền cho người thắng. Số tiền thắng thua các trận đấu, L sẽ đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho H và những người tham gia đánh bạc; L sử dụng các tài khoản ngân hàng V1 của L để giao dịch chuyển tiền. Từ tháng 11 đến tháng 12/2022, H và L đã tổ chức cá độ bóng đá với những người đánh bạc gồm: Phan Thành N tham gia cá độ tổng cộng 04 trận, trận thấp nhất với số tiền 4.000.000 đồng, trận cao nhất với số tiền 10.700.000 đồng; Nguyễn Duy V tham gia cá độ tổng cộng 04 trận, trận thấp nhất với số tiền 5.000.000 đồng, trận cao nhất với số tiền 7.000.000 đồng; Nguyễn Thành P1 tham gia cá độ tổng cộng 03 trận, trận thấp nhất với số tiền 4.400.000 đồng, trận cao nhất với số tiền 13.950.000 đồng; Lê Trung T4 tham gia cá độ tổng cộng 17 trận, trận thấp nhất với số tiền 1.375.000 đồng, trận cao nhất với số tiền 27.250.000 đồng; Biện Văn Đ1 tham gia cá độ tổng cộng 08 trận, trận thấp nhất với số tiền 5.000.000 đồng, trận cao nhất với số tiền 57.200.000 đồng; Lê Quang T1 tham gia cá độ tổng cộng 36 trận, trận thấp nhất với số tiền 4.000.000 đồng và trận cao nhất với số tiền 60.450.000 đồng. Số tiền thu lợi trong quá trình tổ chức đánh bạc và đánh bạc cụ thể như sau: Lê Trọng H thu lợi số tiền 10.000.000 đồng, Trần Huy L thu lợi số tiền 10.000.000 đồng, Biện Văn Đ1 thu lợi số tiền 9.800.000 đồng, Nguyễn Thành P1 thu lợi số tiền 7.200.0000 đồng. Ngày 01/12/2022, khi L đến Ủy ban nhân dân xã B làm thủ tục hành chính, bị lực lượng Công an huyện L kiểm tra điện thoại của L thì phát hiện các tin nhắn liên quan đến việc tổ chức cá độ bóng đá. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an huyện L tiến hành làm việc với L, N và V, tất cả đều thừa nhận có liên quan đến việc tổ chức cá độ bóng đá. Đến Ngày 02/12/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện L ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với L, N và V. Đến ngày 03/12/2022, tiếp tục ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với P1. Đến ngày 10/12/2022 Lê Trung T4, ngày 20/12/2022 Lê Quang T1, ngày 29/12/2022 Biện Văn Đ1 lần lượt đến Cơ quan điều tra Công an huyện L đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 09/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt bị cáo để tạm giam đối với H về hành vi nêu trên. Trước Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 14-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã quyết định;
Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố các bị cáo: Lê Trọng H, Trần Huy L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt:
- + Bị cáo Lê Trọng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giam từ ngày 09/01/2023 đến 17/5/2023 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- + Bị cáo Trần Huy L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến ngày 11/12/2022 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố các bị cáo: Lê Quang T1, Biện Văn Đ1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:
- + Bị cáo Lê Quang T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
- + Bị cáo Biện Văn Đ1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 29/12/2022 đến ngày 01/01/2023 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố các bị cáo: Phan Thành N, Nguyễn Duy V, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:
- + Bị cáo Phan Thành N 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến ngày 11/12/2022 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- + Bị cáo Nguyễn Duy V 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến ngày 11/12/2022 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- + Bị cáo Lê Trung T4 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
- + Bị cáo Nguyễn Thành P1 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 03/12/2022 đến 11/12/2022 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác không phải phạt tù.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:
- Về tố tụng:
Bị cáo Lê Trọng H rút toàn bộ kháng cáo; căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Huy L vắng mặt không có lý do chính đáng; căn cứ Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với bị cáo.
- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điêu 322 và tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
- Về kháng cáo và hình phạt:
Đối với bị cáo Trần Huy L bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần; hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp; bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận.
Đối với bị cáo T1 và Đ1: Các bị cáo bị xử phạt ở khoản 2 Điều 321, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt tù là có căn cứ. Các bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết mới nên không có căn cứ xem xét.
Đối với các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Duy V, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; nhân thân của các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo kháng cáo cung cấp đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về hình phạt do có tình tiết mới tại cấp phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bị cáo Trần Huy L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; trong vụ án còn có kháng cáo của các bị cáo khác và không có kháng nghị tăng nặng hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Căn cứ Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử đối với bị cáo.
Bị cáo Lê Trọng H tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo và không có kháng nghị của Viện kiểm sát; căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đối với bị cáo Lê Trọng H; Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành có hiệu lực thi hành đối với bị cáo.
[2] Về tội danh:
Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ, lời khai của các bị cáo có mặt tại phiên tòa; có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Huy L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322; các bị cáo Lê Quang T1, Biện Văn Đ1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321; các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
[3] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; tất cả các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; các bị cáo T1, Đ1, T4 đầu thú nên còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo. Các bị cáo Lê Quang T1, Biện Văn Đ1 và Trần Huy L không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới.
4. Về kháng cáo và hình phạt.
Bị cáo Trần Huy L phạm tội với vai trò tổ chức đánh bạc, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, có nhân thân xấu, phạm tội với 02 tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 và 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
Các bị cáo Lê Quang T1, Biện Văn Đ1 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 (điểm s khoản 1 Điều 51) và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 52) nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân không có tiền án, tiền sự, chưa từng bị kết án hoặc xử lý vi phạm hành chính; có nơi cư trú rõ ràng; mặc dù, các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhiều hơn 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; cùng với tình tiết giảm nhẹ mới các bị cáo nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách cùng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Buộc các Trần Huy L, Biện Văn Đ1 và Lê Quang T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 348, 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Lê Trọng H; Bản án hình sự sơ thẩm số: 151/2023/HS-ST ngày 14-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành có hiệu lực để thi hành đối với bị cáo.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Huy L, Lê Quang T1 và Biện Văn Đ1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 151/2023/HS-ST ngày 14-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về hình phạt đối với các bị cáo.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 151/2023/HS-ST ngày 14-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về hình phạt đối với các bị cáo do có tình tiết mới;
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Áp dụng điểm c, d khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
- - Bị cáo Trần Huy L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án; được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 02/12/2022 đến ngày 11/12/2022.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt:
- - Bị cáo Lê Quang T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
- - Bị cáo Biện Văn Đ1 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án; được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 29/12/2022 đến ngày 01/01/2023.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; xử phạt:
- Bị cáo Phan Thành N 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Duy V 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Lê Trung T4 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Thành P1 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm (tám) 08 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Duy V, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các Trần Huy L, Lê Quang T1, Biện Văn Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Phan Thành N, Nguyễn Văn D, Lê Trung T4, Nguyễn Thành P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Bị cáo (1); - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân huyện Long Thành (2); - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Long Thành; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Long Thành; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Nam Phương Vũ Thế Phương | Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 192/2024/HS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 192/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bi cáo
