Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 192/2025/HS-ST

Ngày: 03/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Cửu Long.
  2. Ông Võ Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 410/2025/QĐST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 423/TB-TA ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 15/6/1992 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: Khu phố M, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Nhà không số (489/18/12/10) Tổ D, Ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1950; Mẹ: Huỳnh Thị Đ; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/7/2024 (có mặt).

- Bị hại: Công ty cổ phần X

Địa chỉ: B Đường B KDC H, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1992;
  2. Địa chỉ: D P, Ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Anh Đặng Đăng K – Chủ nhiệm Hợp tác xã V;
  4. Địa chỉ: Chung cư A, đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  5. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971;
  6. Địa chỉ: A đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 quen nhau từ trước. Dàng làm nghề tài xế lái xe tải thuê chở hàng cho anh Nguyễn Văn T1. Khi có hàng hóa thì D thường gọi thuê Chiều và T2 theo phụ giúp. Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 16/9/2023, D điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-256.03 đi cùng T2 và Chiều vào công trình nhà ở L, địa chỉ đường T, phường L, thành phố T để giao xi măng. Khi D vào công trình thì thấy có nhiều cây sắt loại phi 20 của Công ty cổ phần X nên D nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Dàng rủ T2 và Chiều lấy trộm thì tất cả đồng ý. D điều khiển xe đến gần chỗ để sắt rồi cả nhóm đến lấy tất cả 97 cây sắt giấu vào gầm xe ô tô rồi điều khiển xe ra khỏi công trình. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, D điều khiển xe cùng T2 và C đến tiệm mua bán phế liệu bán cho chị Lê Thị Hồng G 9.600.000 (chín triệu sáu trăm nghìn) đồng. Chị H1 không biết số sắt trên do phạm tội mà có. Dàng chia tiền cho C và T2, mỗi người được 3.200.000 (ba triệu hai trăm nghìn) đồng.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Nguyễn Văn D cùng T2 và C tiếp tục đến giao xi măng cho công trình trên thì bị bảo vệ giữ lại, đưa đến Công an phường L làm rõ vụ việc mất trộm.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan Điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn C. Riêng Nguyễn Hữu T2 xác minh thông tin tại địa phương không tìm thấy thông tin như lời khai ban đầu của T2. Cơ quan Điều tra đã thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn D, riêng Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 đã bỏ trốn nên Cơ quan Điều tra chưa bắt được.

Kết luận định giá số 120-KV2-/KLĐG-HĐĐGTS ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 97 đoạn thép có giá trị 8.043.774 (tám triệu không trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tư) đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 97 đoạn thép thuộc sở hữu của Công ty cổ phần X, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty.
  • 01 xe ô tô biển số 51D-256.03 do anh Đặng Đăng K đứng tên chủ sở hữu. Anh Khoa là chủ nhiệm Hợp tác xã V, anh Nguyễn Văn T1 là thành viên của Hợp tác xã trên. Anh T1 góp vốn vào Hợp tác xã V bằng xe trên nên anh K đứng tên chủ sở hữu xe ô tô biển số 51D-256.03, để mượn tên Hợp tác xã mua xe trả góp. Sau khi mua xe xong, anh K giao lại xe cho anh T1 để kinh doanh. Anh T1 thuê Nguyễn Văn D chở xi măng giao cho công trình thì D tự ý lấy xe chở sắt trộm nhưng anh T1 không biết. Cơ quan Điều tra đã trả lại xe trên cho anh K.
  • 01 quần ngắn màu đen, 01 áo thun ngắn màu đen thu của Nguyễn Văn D.
  • 01 áo phản quan lao động màu cam, 01 quần tây dài màu xanh đậm, 01 nón bảo hộ lao động màu trắng thu của Nguyễn Văn C.
  • 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 quần ngắn màu xanh thu giữ của Nguyễn Hữu T2.
  • 01 đĩa CD ghi nhận hiện trường vụ trộm.

Trách nhiệm dân sự:

Anh Đoàn Quốc T3 là đại diện Công ty cổ phần X nhận lại 97 thanh sắt, không có yêu cầu gì khác. Chị Lê Thị H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã mua 97 thanh sắt.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKSTPTĐ ngày 07/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 (một) năm 3 (ba) tháng đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo D nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 16/9/2023, tại công trình xây dựng nhà ở L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 (chưa xác định rõ lai lịch) có hành vi lén lút lấy trộm 97 (chín mươi bảy) thanh sắt của Công ty Cổ phần X. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.043.774 (tám triệu không trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tư) đồng.

Hành vi của Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 (chưa rõ lai lịch) đã bỏ trốn. Cơ quan Điều tra đã tách vụ án hình sự, truy nã bị can Nguyễn Văn C, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can Nguyễn Văn C và ban hành thông báo truy tìm Nguyễn Hữu T2. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy tìm Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 để xử lý trách nhiệm hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm.

Đối với chị Lê Thị H1 khi mua số sắt do nhóm của Nguyễn Văn D bán không biết 97 thanh sắt đó do phạm tội mà có, nên không có căn cứ xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[2]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn D không có tình tiết tang nặng.

[3]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Văn D thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây mất trật tự trị an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Văn D là người lên kế hoạch, xúi giục Nguyễn Văn C và Nguyễn Hữu T2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Tuy nhiên, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo có nhân thân tốt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đoàn Quốc T3 là đại diện Công ty cổ phần X nhận lại 97 thanh sắt, không có yêu cầu gì khác. Chị Lê Thị H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã mua 97 thanh sắt. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 3.200.000 (ba triệu hai trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo D có được nhờ việc chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác nên cần tịch thu, buộc bị cáo nộp lại số tiền trên vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 3.200.000 (ba triệu hai trăm nghìn) đồng mà Nguyễn Văn C, Nguyễn Hữu T2 được hưởng do bán tài sản trộm cắp, khi nào bắt được Nguyễn Văn C, Nguyễn Hữu T2 sẽ xử lý sau.

[7]. Về vật chứng vụ án:

  • 97 đoạn thép thuộc sở hữu của Công ty cổ phần X, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • 01 xe ô tô biển số 51D-256.03 do anh Đặng Đăng K đứng tên chủ sở hữu. Anh Khoa là chủ nhiệm Hợp tác xã V, anh Nguyễn Văn T1 là thành viên của Hợp tác xã trên. Anh T1 góp vốn vào Hợp tác xã V bằng xe trên nên anh K đứng tên chủ sở hữu xe ô tô biển số 51D-256.03, để mượn tên Hợp tác xã mua xe trả góp. Sau khi mua xe xong, anh K giao lại xe cho anh T1 để kinh doanh. Anh T1 thuê Nguyễn Văn D chở xi măng giao cho công trình thì D tự ý lấy xe chở sắt trộm nhưng anh T1 không biết. Cơ quan Điều tra đã trả lại xe trên cho anh K. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • 01 quần ngắn màu đen, 01 áo thun ngắn màu đen thu của Nguyễn Văn D; 01 áo phản quan lao động màu cam, 01 quần tây dài màu xanh đậm, 01 nón bảo hộ lao động màu trắng thu của Nguyễn Văn C; 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 quần ngắn màu xanh thu giữ của Nguyễn Hữu T2. Xét thấy các đồ vật trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 đĩa CD ghi nhận hiện trường vụ trộm. Xét thấy đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội nên cần lưu hồ sơ vụ án.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2024.

  3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn D nộp lại số tiền 3.200.000 (ba triệu hai trăm nghìn) đồng vào ngân sách nhà nước.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
    • Tịch thu, tiêu hủy 01 quần ngắn màu đen, 01 áo thun ngắn màu đen thu của Nguyễn Văn D; 01 áo phản quan lao động màu cam, 01 quần tây dài màu xanh đậm, 01 nón bảo hộ lao động màu trắng thu của Nguyễn Văn C; 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 quần ngắn màu xanh thu giữ của Nguyễn Hữu T2.
    • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi nhận hiện trường vụ trộm.

    (Theo Phiếu nhập kho số: NK25/...C ngày .../.../.... của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 192/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 192/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger