TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 192/2025/DS-ST. Ngày: 16/12/2025. V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Lê Thị Ánh Sáng.
+ Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 118/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 20215, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH L.
Địa chỉ: Số A A đường N, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy B – Giám đốc.
- Bị đơn: Ông Ngô Hùng T, sinh năm: 1958.
CCCD số: [...], ngày cấp: 09/8/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH.
Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã P, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy V, sinh năm: 1986.
CCCD số: [...], ngày cấp: 24/11/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH.
Địa chỉ: 1 đường H, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: 15 đường A, M, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông V có mặt, ông B có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2024, ngày 15/02/2025 của nguyên đơn Công ty TNHH L có đại diện ông Nguyễn Duy B trình bày: Ngày 22 tháng 02 năm 2022 Công ty TNHH L có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 09/2022/HĐDVPL- BALAW với ông Ngô Hùng T. Công ty nhận đại diện theo ủy quyền cho ông Ngô Hùng T trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh P và bà Đinh Thị H. Thỏa thuận phí và thù lao 1.000.000.000 (một tỷ) đồng; ông T đã thanh toán số tiền là 50 triệu đồng vào ngày 17/11/2024. Nay, vụ án dân sự nêu trên đã được Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giải quyết xong, đã được thi hành án và ông T, bà V1 đã nhận tài sản thi hành án nhưng không thanh toán số tiền thù lao còn lại cho công ty, công ty cũng đã nhiều lần thông báo yêu cầu ông T, bà V1 thanh toán phí dịch vụ nhưng ông bà thoái thác trách nhiệm, đã vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty.
Nay, Công ty TNHH L yêu cầu ông Ngô Hùng T và bà Trần Thụy Ngọc V1 phải thanh toán số tiền 950.000.000 (Chín trăm năm mươi triệu) đồng và thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, Công ty TNHH L có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thụy Ngọc V1, do giao dịch thực hiện hợp đồng dịch vụ không có liên quan đến bà Trần Thụy Ngọc V1.
+ Bị đơn ông Ngô Hùng T có người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Huy V trình bày: Ngày 22 tháng 02 năm 2022, ông Ngô Hùng T có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty TNHH L, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Duy B - Giám đốc. Phí Hợp đồng dịch vụ 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Sau khi ký Hợp đồng dịch vụ thì ông T đã thanh toán đợt 1 cho Công ty TNHH L số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại các bên thỏa thuận khi Công ty TNHH L hoàn thành công việc. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giải quyết vụ án và đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Quyết định số: 11/2022/QĐST-DS ngày 20/5/2022), theo đó ông Nguyễn Thanh P, bà Đinh Thị H phải thanh toán cho ông Ngô Hùng T số tiền 3.000.000.000 đồng. Đến nay, ông T chưa nhận được số tiền nêu trên. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì công việc chưa hoàn thành, Công ty TNHH L đã khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán số tiền 950.000.000 (chín trăm năm mươi triệu) đồng, ông H1 không đồng ý. Về phía Công ty TNHH L, đại diện là ông Nguyễn Duy B đã có những vi phạm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của ông Ngô Hùng T. Ngày 16/9/2025, ông Ngô Hùng T có đơn phản tố đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 09/2022/HĐDVPL- BALAW ngày 22/02/2022 vô hiệu.
- Buộc Công ty TNHH L phải bồi thường thiệt hại do lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, trả lại cho ông Ngô Hùng T số tiền 50.000.000 đồng số tiền ông T đã tạm ứng cho Công ty.
- Bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do Công ty liên tục trấn áp, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự. Mức bồi thường bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định số tiền 23.400.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn rút một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do Công ty liên tục trấn áp đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự. Mức bồi thường bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định số tiền 23.400.000 đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các tài liệu, chứng cứ thu thập có tại hồ sơ.
Đề nghị Hội đồng xét xử Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH L đối với bà Trần Thụy Ngọc V1.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH L đối với ông Ngô Hùng T. Buộc ông Ngô Hùng T phải thanh toán cho Công ty TNHH L số tiền 950.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị tuyên Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 09/2022/HĐDVPL-BALAW ngày 22/02/2022 vô hiệu.
Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn đề nghị Công ty TNHH L phải bồi thường thiệt hại do lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, trả lại cho ông Ngô Hùng T số tiền 50.000.000 đồng.
Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu Công ty TNHH L bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do Công ty liên tục trấn áp đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự số tiền 23.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo luật định.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền theo thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 22 tháng 02 năm 2022. Bị đơn có địa chỉ tại xã P, tỉnh Đồng Nai. Quan hệ tranh chấp xác định “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai theo Điều 26, Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về tư cách đương sự: Công ty TNHH L khởi kiện ông Ngô Hùng T và bà Trần Thụy Ngọc V1 phải thanh toán tiền trong hợp đồng dịch vụ. Xét quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng là giữa Công ty TNHH L và ông Ngô Hùng T, không liên quan đến bà Trần Thụy Ngọc V1. Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH L, ông Nguyễn Duy B có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thụy Ngọc V1. Xác định, Công ty TNHH L là nguyên đơn, ông Ngô Hùng T là bị đơn theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Nguyên đơn yêu cầu ông Ngô Hùng T phải thanh toán số tiền còn lại trong hợp đồng dịch vụ pháp lý 950.000.000 (chín trăm năm mươi triệu) đồng.
Thể hiện tại Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 09/2022/HĐDVPL-BALAW ngày 22 tháng 02 năm 2022. Các bên đã tự nguyện thỏa thuận ký kết hợp đồng với nhau.
Điều 1: Công ty TNHH L “Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, tham dự phiên tòa, thực hiện việc phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm, trả lời câu hỏi, quyết định tất cả các vấn đề liên quan vụ án Dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn ông Ngô Hùng T để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bên A theo đúng quy định của pháp luật.
Tư vấn pháp luật, thực hiện và giải quyết các thủ tục, soạn thảo văn bản, đại diện làm việc trực tiếp để yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thi hành bản án có hiệu lực pháp luật và thay mặt bên A yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng mọi biện pháp tốt nhất để bảo vệ quyền lợi cho Bên A.
Điều 2: Phí dịch vụ... “Phí dịch vụ được 2 bên hiểu thỏa thuận, thống nhất thiện chí là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
Đợt 1: Bên A cho bên B tạm ứng trước 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng sau khi ký hợp đồng.
Đợt 2: Sẽ thanh toán hết sau khi kết thúc công việc.
Sau khi ký Hợp đồng dịch vụ, ông T đã thanh toán cho Công ty TNHH L số tiền 50.000.000 đồng (Phiếu thu ngày 17/11/2024).
Tại Quyết định số: 11/2022/QĐST-DS ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (BL: 10) “Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn: Ông Ngô Hùng T và bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P, chị Đinh
Thị H. Cùng địa chỉ: H, CT2, Chung cư C, khu H, phường V, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh Nguyễn Thanh P, chị Đinh Thị H phải trả cho ông Ngô Hùng T số tiền 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng”
Tại Quyết định Thi hành án theo yêu cầu số: 31/QĐ-CCTHADS ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. (BL: 7) “Cho thi hành án đối với: Nguyễn Thanh P, Đinh Thị H ...”
Tại Quyết định số: 06/QĐ-CCTHADS ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. (BL: 6) “Cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Thanh P và bà Đinh Thị H ...”.
Tại văn bản số: 1165/THADS.KV2 ngày 15/12/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Đồng Nai v/v cung cấp thông tin “... ông Ngô Hùng T người được thi hành án có đơn xin nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, cơ quan thi hành án đã tiến hành bàn giao tài sản cho ông Ngô Hùng T để trừ vào tiền được thi hành án”.
Như vậy, ông Lê Duy B1 đại diện Công ty TNHH L đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ pháp lý, đã hoàn thành công việc theo thỏa thuận tại Điều 1 của hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ngô Hùng Tín C mới thanh toán cho Công ty TNHH L số tiền 50.000.000 đồng, cho đến nay ông T chưa thanh toán số tiền còn lại cho Công ty TNHH L, ông Ngô Hùng T đã vi phạm thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán tiền. Công ty TNHH L khởi kiện yêu cầu ông Ngô Hùng T phải trả cho Công ty TNHH L số tiền 950.000.000 (chín trăm năm mươi triệu) đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng dịch vụ pháp lý và theo quy định tại khoản 2 Điều 515, khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH L là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 16/9/2025, ông Ngô Hùng T có đơn phản tố đề nghị Tòa án giải quyết: Tuyên Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 09/2022/HĐDVPL-BALAW ngày 22/02/2022 vô hiệu; Buộc Công ty TNHH L phải bồi thường thiệt hại do lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, trả lại cho ông Ngô Hùng T số tiền 50.000.000 đồng số tiền ông T đã tạm ứng cho Công ty; Yêu cầu Công ty TNHH L bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do Công ty liên tục trấn áp, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự, số tiền 23.400.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn rút một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm đối với Công ty TNHH L, số tiền 23.400.000 đồng. Xét, việc rút yêu cầu khởi kiện của bị đơn là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
Đối với các yêu cầu còn lại. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, lời khai của nguyên đơn, bị đơn xác định: Ông Ngô Hùng T có ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty TNHH L theo Hợp đồng số: 09/2022/HĐDVPL-BALAW ngày 22/02/2022 là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên. Ông Ngô Hùng T tuân thủ các quy định tại Điều 116, Điều 117 của
Bộ luật Dân sự khi giao kết nên là hợp đồng hợp pháp. Do vậy, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Ngô Hùng T.
[5] Đối với việc nguyên đơn có đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thụy Ngọc V1. Việc, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với bà V1 là tự nguyện, không trái pháp luật nên được đình chỉ.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Ông Ngô Hùng T phải chịu 40.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận.
Hoàn trả cho Công ty TNHH L số tiền 20.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo biên lai số 0014771 ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 351, 352, 385, 401, 513, 514, 515, 516, 517, 518, 519 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị quyết số: 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH L đối với bà Trần Thụy Ngọc V1.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH L đối với ông Ngô Hùng T, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Buộc ông Ngô Hùng T phải thanh toán cho Công ty TNHH L số tiền 950.000.000 (chín trăm năm mươi triệu) đồng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu tuyên Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 09/2022/HĐDVPL-BALAW ngày 22/02/2022 vô hiệu.
Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn buộc Công ty TNHH L phải bồi thường thiệt hại do lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, trả lại cho ông Ngô Hùng T số tiền 50.000.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu Công ty TNHH L bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền 23.400.000 đồng.
2. Về án phí: Ông Ngô Hùng T phải chịu 40.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận.
Hoàn trả cho Công ty TNHH L số tiền 20.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo biên lai số 0014771 ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)
3. Quyền kháng cáo: Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Cảnh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lê Thị Ánh Sáng Nguyễn Thị Thanh Nguyễn Tấn C1 | |
Bản án số 192/2025/DS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 192/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ