|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 192/2024/HS - ST Ngày 26 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quản Thị Dung, bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1.Cứ A D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1977 tại huyện M, tỉnh Sơn La nơi ĐKNKTT: Bản N (nay là bản N), xã M, huyện M, tỉnh Sơn La nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Học lớp xóa mù chữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cứ A S bà Vàng Thị M (Đều đã chết); vợ là Mùa Thị M1 sinh năm 1986 và có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 03/2007/HSST ngày 15/10/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã xử phạt Cứ A Dơ 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, án phí HSST 50.000 đồng (đã thi hành án phí ngày 04/3/2008); Tại bản án số 36/2019/HSST ngày 31/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã xử phạt Cứ A Dơ 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 200.000 đồng (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021, án phí ngày 01/8/2019). (Cả hai đều đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2.Lường Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/01/1995 tại huyện M, tỉnh Sơn La nơi ĐKNKTT: Bản Mường Kham, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lường Văn Q năm 1974 và bà Lường Thị T1 năm 1974; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/10/2021, Lường Văn T2 Toà án nhân dân huyện Mường La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, đến ngày 20/8/2023 hoàn thành thời gian chữa trị; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Cứ A D1 Bà Trần Bích L sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm T33
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 50 phút ngày 30/01/2024, tổ công tác Công an huyện M nhiệm vụ tại khu vực bản Mường Kham, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện Lường Văn T3 năm 1995, trú tại bản Mường Kham, xã M, huyện M cất giữ trái phép 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng, 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng. T khai nhận là hồng phiến và H giữ để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Văn T4 thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra Cơ quan Công an còn tạm giữ của Lường Văn T01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei.
Mở rộng điều tra, ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Cứ A D1 sinh năm 1977, trú tại bản Nà Chạy, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La Kết quả thu giữ: Tại vị trí dưới đệm giữa giường ngủ 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 195 viên nén hình tròn màu hồng; dưới gầm tủ cạnh giường ngủ 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng; tại túi quần bên phải Cứ A mặc số tiền 3.000.000 đồng (gồm 12 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO. Kết luận giám định số 483/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: Số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Cứ A D1 tiền thật.
* Vật chứng thu giữ của Lường Văn T
Hồi 23 giờ 00 ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lường Văn T5 quả:
- 04 viên nén có khối lượng 0,35 gam. Trích 02 viên khối lượng 0,18 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, đánh ký hiệu T1.
- Chất cục bột màu trắng có khối lượng 7,14 gam. Trích 0,22 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, đánh ký hiệu T2.
Kết luận giám định số 463/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam.
Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H có tên khoa học là D2 được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,35 gam; loại Methamphetamine và 7,14 gam, loại Heroine”.
* Vật chứng thu giữ của Cứ A
Hồi 15 giờ 30 ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Cứ A kết quả:
- 195 viên nén có khối lượng 17,53 gam. Trích 05 viên khối lượng 0,44 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, đánh ký hiệu D1.
- Chất cục bột màu trắng có khối lượng 5,04 gam. Trích 0,15 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, đánh ký hiệu D2.
Kết luận giám định số 464/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu D1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,44 gam.
Mẫu ký hiệu D2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H có tên khoa học là D2 được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 17,53 gam; loại Methamphetamine và 5,04 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra Cứ A D và Lường Văn T nhận:
Khoảng 12 giờ ngày 22/01/2024, Cứ A D ở nhà tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La thì có bạn tên là H1 A N sinh năm 1974, trú tại bản Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đến chơi. Qua nói chuyện, N cho D 01 gói nilon bên trong chứa 10 viên hồng phiến và bảo D cho khách để kiểm tra chất lượng, nếu có người hỏi mua Nếnh sẽ mang ma tuý đến cho D kiếm lời, D ý. Số hồng phiến trên, D ra 02 viên để sử dụng, 04 viên bị làm rơi, còn lại 04 viên Dơ cất giấu ở vị trí khe cửa trong nhà mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán.
Khoảng 9 giờ ngày 30/01/2024, D được điện thoại của N sẽ đến nhà chơi, D bảo N theo ma tuý hồng phiến và H bán cho D nhất trí. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lường Văn T điện cho D ứng dụng zalo hỏi có ma tuý bán không? Do trước đó đã đặt mua ma tuý của N nghĩ trong ngày hôm nay N xuống nhà giao ma tuý nên D với T ma tuý và hẹn T xuống nhà D giao dịch mua bán. Sau khi nói chuyện với D T đi nhờ xe máy của một người qua đường từ nhà tại bản M, xã M, huyện M xuống nhà D Tại đây, T cho D 3.000.000 đồng đặt mua Heroine và bảo nếu có hồng phiến thì cho T nợ 500.000 đồng. D bảo T ngồi trong nhà đợi và cất tiền T vào trong túi quần bên phải đang mặc.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, D Hờ A N khiển xe máy không rõ biển kiểm soát đến nhà, D bảo N ra ngoài sân để giao dịch mua bán, còn T ngồi trong nhà. Qua trao đổi, D mua được của N 02 gói Heroine (N bảo khoảng 02 chỉ) với giá 4.000.000 đồng và 01 túi hồng phiến giá 3.000.000 đồng, tổng số tiền 7.000.000 đồng. Dơ trả trước cho N 3.000.000 đồng (là tiền cá nhân của D bị trước đó cất trong túi áo) và hẹn khi nào bán được hết ma tuý sẽ trả Nếnh số tiền còn thiếu, N nhất trí cầm tiền và đi về. Sau khi mua được ma tuý, D 01 gói Heroine từ số ma tuý mua được của N và 04 viên hồng phiến cất giấu trước đó tại khe cửa trong nhà bán cho Lường Văn T ma tuý còn lại gồm 01 gói Heroine Dơ cất giấu dưới gầm tủ cạnh giường, 01 gói hồng phiến cất giấu dưới đệm trong phòng ngủ, mục đích để sử dụng dần và nếu có ai hỏi mua thì bán.
Lường Văn T khi mua được ma tuý T đi bộ về nhà, trên đường di chuyển T gọi điện cho em họ là Lường Việt C sinh năm 2003, trú tại bản Mường Kham, xã M, huyện M và tiếp tục đi bộ về nhà, khi đến khu vực bản Mường Kham, xã M, huyện M công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Ngày 31/01/2024, Cứ A Công an huyện M giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý. Nguồn gốc 17,88 gam Heroine và 12,18 gam Heroine thu giữ trong vụ án, Cứ A D nhận mua được của Hờ A N (tên gọi khác: Hờ A N sinh năm 1974, trú tại bản Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La Cơ quan điều tra đã thu thập ảnh và tiến hành cho Cứ A D Lường Văn T nhận dạng Hờ A kết quả: Cứ A D dạng được Hờ A N là người đã bán ma tuý cho Dơ ngày 30/01/2024, Lường Văn T nhận dạng được.
Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H1 A Tại thời điểm thi hành Lệnh giữ người Hờ A N có mặt tại địa phương. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Quyết định truy tìm người số 1016/QĐTT-CSMT đối với Hờ A có lý lịch như trên, khi nào triệu tập lấy lời khai nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, Lường Văn T nhận, trong thời gian các ngày 21, 22/01/2024, Lường Văn T 02 lần bán H cho Lường V C thu lợi số tiền 150.000 đồng. Nguồn gốc số ma tuý T cho C T khai mua của một đối tượng không quen biết ở khu vực xã C, huyện M mua bán T không cân tịnh khối lượng ma tuý cụ thể đã bán cho C Đối với số ma tuý mua được của T C đã sử dụng hết, do vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lường V C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 31/01/2024, Toà án nhân dân huyện Mường La đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 96/QĐ-TA đối với Lường V thời hạn 20 tháng. Đối với lần thực hiện hành vi phạm tội của Lường Văn T 30/01/2024, quá trình điều tra xác định Lường Việt C biết và không liên quan. Hành vi của Lường Văn T 02 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho Lường Việt C thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do có hành vi nêu trên. Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS-P1 ngày 10/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Cứ A D tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Lường Văn T tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Các bị cáo C1 A Lường Văn T nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, các bị cáo không khai báo gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Cứ A D Lường Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cứ A D từ 15 đến 16 năm tù.
Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 08 đến 09 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng thu của Cứ A D (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu HUAWEI màu xanh, loại màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng có gắn 02 thẻ sim, thẻ sim 1 có thuê bao số: 0868.404.090 (mạng viettel) và thẻ sim 2 có thuê bao số: 0976.457.014 (mạng viettel) thu giữ của Lường Văn T (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu xanh nhạt, loại màn hình cảm ứng có gắn 1 thẻ sim có thuê bao số 0915.571.353 đã qua sử dụng, thu giữ của Cứ A D
Truy thu của bị cáo Lường Văn T tiền 150.000 đồng.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo C1 A D1 Nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố. Bị cáo D1 là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý, am hiểu pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
- Bị cáo Cứ A D1 nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận bổ sung, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo Lường Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Ngày 30/01/2024, Lường Văn T có hành vi mua trái phép 0,35 gam Methamphetamine và 7,14 gam Heroine của Cứ A với giá 3.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, trên đường quay về đến bản Mường Kham, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La Lường Văn T bị tổ công tác Công an huyện M, bắt quả tang. Quá trình điều tra, Lường Văn T khai nhận, trong các ngày 21, 22/01/2024, Lường Văn T 02 lần bán Heroine cho Lường V C thu lợi bất chính số tiền 150.000 đồng.
Căn cứ lời khai của Lường Văn T 31/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M khẩn cấp Cứ A hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ tại chỗ ở 17,53 gam Methamphetamine và 5,04 gam loại Heroine. Dơ khai nhận cất giữ số ma tuý trên nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Tổng khối lượng hai chất ma túy Cứ A D chịu trách nhiệm hình sự là 30,06 gam.
Hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 50 phút ngày 30/01/2024 tại bản Mường Kham, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Lường Văn T vật chứng thu giữ;
- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 21 giờ 20 phút ngày 30/01/2024 tại bản Mường Kham, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La vật chứng thu giữ của Lường Văn T: 01 (một) gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên mặt các viên có ký hiệu WY, theo T nhận là hồng phiến; 01 (một) gói được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, bên trong chứa các cục bột màu trắng, theo T nhận là H 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI loại màn hình cảm ứng;
- Kết luận giám định số 463/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H có tên khoa học là D2 được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,35 gam; loại Methamphetamine và 7,14 gam, loại Heroine”.
- Bản ảnh xác định người cùng thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng;
- Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 51/LGN-ĐCSHS-KTMT ngày 31/01/2024 đối với Cứ A năm 1977.
- Kết luận giám định số 464/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu D1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,44 gam. Mẫu ký hiệu D2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 17,53 gam; loại Methamphetamine và 5,04 gam; loại Heroine”.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc khi bị bắt quả tang Lường Văn T khi bắt khẩn cấp đối với Cứ A D hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo C1 A Lường Văn T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Cứ A D thực hiện hành vi bán trái phép cho Lường Văn T 0,35 gam Methamphetamine; 7,14 gam Heroine. Ngoài ra thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà Cứ A D 17,53 gam Methamphetamine; 5,04 gam Heroine. Tổng khối lượng ma tuý Cứ A D chịu trách nhiệm hình sự là 30,06 gam, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, C1 Methamphetamine, AMDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Bị cáo Lường Văn T thực hiện hành vi mua của C1 A Dơ 0,35 gam Methamphetamine và 7,14 gam Heroine, tổng khối lượng ma túy là 7,49 gam mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, C1 Methamphetamine, AMDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra Lường Văn T và Lường Việt C khai nhận, trong thời gian các ngày 21, 22/01/2024, T đã 02 lần bán H cho C lợi số tiền 150.000 đồng, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Bị cáo Cứ A D 02 tiền án đều đã được xoá án tích: Tại Bản án số 03/2007/HSST ngày 15/10/2007, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La đã xử phạt Cứ A D 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, án phí HSST 50.000 đồng; Tại bản án số 36/2019/HSST ngày 31/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã xử phạt Cứ A D 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án phí HSST 200.000 đồng (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021, nộp án phí ngày 01/8/2019).
Bị cáo Lường Văn T 01 tiền sự: Ngày 20/10/2021 Lường Văn T Toà án nhân dân huyện Mường La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng, đến ngày 20/8/2023 Lường Văn T thành thời gian chữa trị.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, bị cáo Lường Văn T tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt:
Bị cáo Cứ A D và bị cáo Lường Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng do hám lời, bị cáo Cứ A D đã có hành vi mua bán tổng khối lượng 30,06 gam ma tuý các loại; bị cáo Lường Văn T có hành vi mua bán tổng khối lượng 7, 49 gam ma tuý các loại. Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo Lường Văn T khai nhận trước khi bị bắt quả tang đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Lường Việt C
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo C1 A D thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn T trường hợp nghiêm trọng. Các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn khác trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp và tương xứng với khối lượng ma tuý, nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo thực hiện, cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản giá trị, là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về đối tượng có liên quan:
Nguồn gốc 17,88 gam Heroine và 12,18 gam Heroine thu giữ trong vụ án, Cứ A D nhận mua được của Hờ A N (tên gọi khác: Hờ A N sinh năm 1974, trú tại bản Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La Cơ quan điều tra đã thu thập ảnh, tiến hành cho Cứ A D Lường Văn T nhận dạng đối với Hờ A quả Dơ nhận dạng được N là người đã bán ma tuý cho bị cáo ngày 30/01/2024, T không nhận dạng được. Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hờ A thời điểm thi hành lệnh Hờ A có mặt tại địa phương. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh S ra Quyết định truy tìm người số 1016/QĐTT-CSMT đối với Hờ A có lý lịch như trên, khi nào triệu tập lấy lời khai có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Lường V C quá trình điều tra L nhận, trong thời gian các ngày 21, 22/01/2024, Lường Văn T 02 lần bán trái phép H cho Lường V C thu lợi số tiền 150.000 đồng. Nguồn gốc số ma tuý T cho C T khai mua của một đối tượng không quen biết ở khu vực xã C, huyện M ma tuý cho C T không cân tịnh khối lượng ma tuý cụ thể. Đối với số ma tuý mua được của T C đã sử dụng hết. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lường V C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 31/01/2024, Toà án nhân dân huyện Mường La đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lường V C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng. Đối với lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lường Văn T ngày 30/01/2024, quá trình điều tra xác định Lường Việt C biết và không liên quan.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau khi đã trích mẫu giám định của các bị cáo gồm: 0,17 gam Methamphetamine và 6,92 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu (thu giữ của bị cáo Lường V T 17,09 gam Methamphetamine và 4,89 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu (thu giữ của bị cáo C1 A D Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Lường Văn T bắt quả tang ngày 30/01/2024; 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Cứ A Dơ ngày 31/01/2024. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại nêu trên là tài sản của các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để hẹn đến điểm mua bán ma túy. Do đó, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của bị cáo C1 A D xác định bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà có. Do đó, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 150.000 đồng do Lường Văn T bán trái phép chất ma tuý cho Lường Việt C vào ngày 21, 22/01/2024. T khai đã chi tiêu cá nhân hết. Do đó, cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo Cứ A D là dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định.
Bị cáo Lường Văn T chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
Căn cứ Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Cứ A D và bị cáo Lường Văn T tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cứ A D 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 31/01/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.2 Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 30/01/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Công an huyện M niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng vụ: L2 bán trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang ngày 30/01/2024 tại: M, M, S1 La Gồm có: 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 (Một) mảnh ni lon màu hồng ban đầu; 01 (Một) mảnh ni lon màu xanh ban đầu; 01 (Một) túi ni lon màu trắng ký hiệu T1A có khối lượng 0,17 gam và 01 (Một) túi ni lon màu trắng ký hiệu T2A có khối lượng 6,92 gam". Mặt sau tại mép dán của phong bì được dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số 033777, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện M1
- 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Công an huyện M niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng vụ: Cứ A Mua bán trái phép chất ma túy, bị giữ khẩn cấp ngày 31/01/2024 tại: M, M, S1 La Gồm có: 02 (Hai) vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 (Một) túi ni lon màu xanh ban đầu; 01 (Một) mảnh ni lon màu xanh ban đầu; 01 (Một) túi ni lon màu trắng ký hiệu D1A có khối lượng 17,09 gam và 01 (Một) túi ni lon màu trắng ký hiệu D2A có khối lượng 4,89 gam". Mặt sau tại mép dán của phong bì được dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số 088007, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện M1
(Theo Kết luận giám định số 463/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S thì mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu T2 là ma túy loại Heroine)
(Theo Kết luận giám định số 464/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S thì mẫu gửi giám định ký hiệu D1 là ma túy loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu D2 là ma túy loại Heroine)
3.2. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Lường Văn T tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
3.3. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) thu được của bị cáo Cứ A D
- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu HUAWEI màu xanh, loại màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng có gắn 02 thẻ sim, thẻ sim 1 có thuê bao số: 0868.404.090 (mạng V1 và thẻ sim 2 có thuê bao số: 0976.457.014 (mạng Viettel) thu giữ của Lường Văn T
- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu xanh nhạt, loại màn hình cảm ứng có gắn 1 thẻ sim có thuê bao số 0915.571.353 đã qua sử dụng, thu giữ của Cứ A D
(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 29/08/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cứ A D
Bị cáo Lường Văn T chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/09/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 192/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 192/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
