|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 192/2024/DS-PT Ngày: 16/5/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Dũng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Ông Trương Hoài Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 305/2023/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 132/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Kim P, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số A hẻm F đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: Số H đường N, khu dân cư N, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13-3-2023). Có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Trương Kim B, sinh năm 1961. Có mặt.
- Bà Nguyễn Lang T, sinh năm 1960. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Số 1 đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Trọng T1 - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thanh N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số I đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Lang T là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21-7-2023).
· Người làm chứng:
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số Y đường số B, khu đô thị H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Lang T và ông Trương Kim B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13-3-2023 và trong quá trình giải quyết đại diện ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn H trình bày:
Vào năm 2021 và năm 2022, vợ chồng ông Trương Kim B và bà Nguyễn Lang T hỏi vay tiền của bà Lê Kim P với mục đích kinh doanh trong gia đình. Trên cơ sở thỏa thuận, bà P đồng ý cho vợ chồng ông B, bà T vay tiền với lãi suất 3%/tháng. Bà P đã đưa tiền cho bà T làm nhiều lần, mỗi lần đều viết giấy biên nhận tiền (viết tay), cụ thể:
- + Đợt 1: Ngày 08-6-2021, số tiền vay 100.000.000 đồng;
- + Đợt 2: Ngày 08-6-2021, số tiền vay 350.000.000 đồng;
- + Đợt 3: Ngày 08-11-2021, số tiền vay 100.000.000 đồng;
- + Đợt 4: Ngày 05-01-2022, số tiền vay 50.000.000 đồng;
- + Đợt 5: Ngày 08-02-2022, số tiền vay 50.000.000 đồng;
- + Đợt 6: Ngày 10-02-2022, số tiền vay 50.000.000 đồng;
- + Đợt 7: Ngày 25-02-2022, số tiền vay 50.000.000 đồng;
- + Đợt 8: Ngày 26-02-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 9: Ngày 02-03-2022, số tiền vay 950.000.000 đồng;
- + Đợt 10: Ngày 18-3-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 11: Ngày 24-3-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 12: Ngày 30-3-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 13: Ngày 04-4-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 14: Ngày 04-4-2022, số tiền vay 100.000.000 đồng;
- + Đợt 15: Ngày 10-5-2022, số tiền vay 300.000.000 đồng;
- + Đợt 16: Ngày 20-5-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 17: Ngày 29-5-2022, số tiền vay 100.000.000 đồng;
- + Đợt 18: Ngày 02-6-2022, số tiền vay 400.000.000 đồng;
- + Đợt 19: Ngày 02-6-2022, số tiền vay 100.000.000 đồng;
- + Đợt 20: Ngày 10-6-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 21: Ngày 29-6-2022, số tiền vay 500.000.000 đồng;
- + Đợt 22: Ngày 06-7-2022, số tiền vay 600.000.000 đồng;
- + Đợt 23: Ngày 20-7-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 24: Ngày 29-7-2022, số tiền vay 300.000.000 đồng;
- + Đợt 25: Ngày 04-8-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 26: Ngày 29-8-2022, số tiền vay 5.600.000.000 đồng;
- + Đợt 27: Ngày 11-10-2022, số tiền vay 250.000.000 đồng;
- + Đợt 28: Ngày 01-11-2022, số tiền vay 200.000.000 đồng;
- + Đợt 29: Ngày 01-12-2022, số tiền vay 300.000.000 đồng.
Việc vay tiền ngày 29-8-2022 với số tiền vay 5.600.000.000 đồng được thành lập bằng hợp đồng và được Văn phòng công chứng 24h chứng nhận theo số 9068, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Đến nay, đã quá thời hạn trả nợ kể từ ngày vợ chồng ông B, bà T hứa hẹn vẫn không trả cho bà P bất kỳ khoản nào mặc dù bà P đã nhiều lần yêu cầu, nhắc nhở. Giao dịch vay tiền giữa bà P và bà T, ông B là sự thật, hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà T, ông B đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P nên bà P khởi kiện yêu cầu buộc ông B, bà T liên đới có nghĩa vụ trả nợ cho bà P với số tiền nợ gốc 12.250.000.000 đồng, tiền lãi theo thỏa thuận tạm tính đến ngày khởi kiện 14-3-2023 tổng cộng là 3.187.800.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 15.437.800.000 đồng.
* Tại bản tự khai ngày 01-6-2023 và trong quá trình giải quyết bị đơn – ông Trương Kim B trình bày:
Ngày 08-6-2021 biên nhận ngày 350.000.000 đồng; ngày 26-02-2022 biên nhận 200.000.000 đồng; ông có ký biên nhận nợ 02 lần là 550.000.000 đồng. Ông thống nhất theo bản tự khai của vợ ông về vốn và lãi suất, ông đồng ý cùng với bà T trả tiền nợ cho bà P.
* Tại bản tự khai ngày 01-6-2023; bản tự khai ngày 10-8-2023 và trong quá trình giải quyết bị đơn – bà Nguyễn Lang T trình bày:
Trong hai năm 2021 và năm 2022, bà có mượn tiền của bà Lê Kim P với mục đích vay vốn kinh doanh. Bà mượn tiền của bà P thông qua bà Trần Thị Thu H1 giới thiệu, với lãi suất 10%/tháng, cò dịch vụ 5% cho 01 biên nhận mượn. Tổng số tiền bà mượn là 4.700.000.000 đồng, tiền lãi 10%/tháng với số tiền đã đóng là 2.722.500.000 đồng, tiền cò 5% với số tiền 235.000.000 đồng.
Các biên nhận nợ ngày 08-6-2021, ngày 08-6-2021, ngày 08-11-2021, ngày 05-01-2022, ngày 08-02-2022, ngày 10-02-2022, ngày 25-02-2022, ngày 26-02-2022 đến ngày 02-3-2022 chốt nợ lại là 950.000.000 đồng.
Ngày 29-8-2022 bà Lê Kim P kêu bà đến Văn phòng C ký hợp đồng vay tài sản tổng số tiền là 5.600.000.000 đồng nhưng thực tế trước đây bà chỉ nợ bà P 4.700.000.000 đồng. Ngoài ra, bà không có nhận thêm số tiền nào khác của bà P. Hiện tại bà chỉ còn nợ bà P số tiền 1.742.000.000 đồng.
Bà thống nhất Biên nhận nợ ngày 30-3-2022 với số tiền mượn 1.550.000.000 đồng là chốt lại của những biên nhận có từ trước ngày 30-3-2022 trở về trước.
Các biên nhận theo đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày sau ngày 30-3-2022 bà thừa nhận có ký nhận mượn tiền để lấy trả tiền lãi cho các biên nhận khác. Chỉ riêng các biên nhận ngày 29-6-2022 số tiền 500.000.000 đồng, biên nhận ngày 01-01-2023 số tiền 60.000.000 đồng, biên nhận không ghi ngày tháng số tiền 300.000.000 đồng, biên nhận ghi năm 2022 số tiền 200.000.000 đồng và Hợp đồng vay tài sản ngày 29-8-2022 số tiền 5.600.000.000 đồng là mặc dù bà có ghi, ký tên nhưng thực tế bà P không có đưa tiền cho bà.
Do bà tin tưởng bà P nên mỗi lần bà trả tiền lãi không có ghi biên nhận lại. Bà chỉ đồng ý trả cho bà P số tiền còn nợ 1.742.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất quy định.
* Tại bản tự khai ngày 12-7-2023 người làm chứng – bà Trần Thị L trình bày:
Bà và vợ chồng bà Nguyễn Lang T, ông Trương Kim B là chỗ bạn bè quen biết với nhau nhiều năm. Vào khoảng tháng 6-2021 bà có chở bà T đến gặp bà Lê Kim P để vay mượn tiền, bà Lê Kim P do bà Trần Thị Thu H1 giới thiệu cho bà T đến vay tiền lần đầu tiên gặp tại quán cà phê đường L, phường A. Trước sự chứng kiến của bà, bà T đã vay mượn tiền của bà P với thỏa thuận lãi suất 10%/tháng và phí dịch vụ cò 5% trên số tiền vay. Những lần giao dịch vay mượn tiền sau đó của bà T và bà P đều diễn ra tại quán cà phê trên đường L với sự chứng kiến của bà. Mỗi lần bà P đưa tiền cho bà T bà đều thấy bà P trừ tiền lãi suất 10% và phí dịch vụ cò 5% sẵn trước, trừ xong bà P mới đưa cho bà T số tiền còn lại. Bà xin được làm nhân chứng là hợp đồng tại công chứng 5.600.000.000 đồng bà P hoàn toàn không có đưa tiền cho bà T, những biên nhận bà T viết sẵn trước cho bà P không có ghi ngày tháng năm mượn và ngày tháng năm trả nợ bà P hoàn toàn chưa đưa biền cho bà T. Bà cam đoan lời tường trình là hoàn toàn sự thật vì bà là người trực tiếp chứng kiến toàn bộ quá trình sự việc vay tiền của bà T với bà P do bà T không biết chạy xe nên lúc nào bà cũng được bà T nhờ chở đi gặp bà P mỗi lần giao dịch. Bà cam kết tự khai trên đây là đúng sự thật, nếu bà khai gian bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
* Tại bản tự khai ngày 14-8-2022 người làm chứng – bà Trần Thị Thu H1 trình bày:
Bà và vợ chồng bà Nguyễn Lang T, ông Trương Kim B là chỗ quen biết khá thân. Vào khoảng tháng 6-2021 bà T và ông B có gặp bà trao đổi là đang cần gấp số tiền để xử lý công việc. Cụ thể là trả tiền mua nhà và đất tại đường L và mảnh đất tại quận C, vì hiện tại hai tài sản này đang tranh chấp và tòa án đang giải quyết nên cần tiền gấp thanh toán để lấy tài sản.
Thấy vậy bà mới liên hệ với bà Lê Kim P nhờ bà P cho vợ chồng bà T, ông B vay tiền và bà P đồng ý (bà và bà P là chỗ bạn bè). Sau đó, bà sắp xếp cho các bên gặp nhau tại quán cà phê đường L, phường A, tại đây các bên thỏa thuận về việc vay tiền.
Vợ chồng ông B, bà T vay của bà P rất nhiều lần (bao nhiêu lần và số tiền cụ thể thì bà không nhớ), mỗi lần vay tiền thì có viết biên nhận và bà là người chứng kiến bà T viết biên nhận và nhận tiền của bà P và không có việc trích tiền cò 5% trên mỗi biên nhận tiền.
Về lãi suất các bên thỏa thuận là 3%/tháng, hàng tháng bà T, ông B có đóng lãi hay không thì bà không chứng kiến nhưng bà P có phản ánh với bà là từ lúc vay cho đến nay thì bà T, ông B chỉ hứa mà không đóng lãi và cũng không trả vốn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 305/2023/DSST ngày 29 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Kim P đối với bị đơn ông Trương Kim B, bà Nguyễn Lang T.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền mượn theo biên nhận mượn ngày 29-6-2022 (số tiền 500.000.000 đồng), biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 200.000.000 đồng) và biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 300.000.000 đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Trương Kim B và bà Nguyễn Lang T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Kim P số tiền 10.300.000.000 đồng (Mười tỷ ba trăm triệu đồng).
- Ông Trương Kim B, bà Nguyễn Lang T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn bà Lê Kim P được nhận lại 61.719.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000815 ngày 21-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 11/01/2024, bị đơn bà Nguyễn Lang T và ông Trương Kim B kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim P.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đại diện ủy quyền cho nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm như giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn cho rằng không có chứng cứ để chứng minh bị đơn B biết được việc bị đơn T vay tiền của bà P và số tiền trên không có sử dụng vào mục đích chung nên ông B không phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với bị đơn T. Nguyên đơn cho bị đơn vay rất nhiều lần nhưng nguyên đơn cho rằng bị đơn không đóng lãi là không thuyết phục, bởi lẽ nếu bị đơn không thực hiện đóng lãi thì nguyên đơn sẽ không cho vay tiếp tục. Đối với số tiền vay 5.600.000.000đ có lập hợp đồng công chứng, đại diện ủy quyền nguyên đơn cho rằng sau khi ký công chứng xong thì về nhà giao đủ tiền cho bị đơn, vấn đề này là trái với quy định của hợp đồng tại điều 7 và nguyên đơn không minh việc đã giao tiền cho bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng:
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung kháng cáo:
Qua thể hiện trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa xét thấy án sơ thẩm xác định về nghĩa vụ trả nợ buộc vợ chồng có trách nhiệm liên đới trả là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Về các khoản tiền vay cấp sơ thẩm tuyên xử là có căn cứ, bị đơn kháng cáo nhưng cũng không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật TTDS không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Lang T và ông Trương Kim B trú tại phường A, quận N trả khoản tiền vay do bị đơn không thực hiện đúng cam kết thỏa thuận. Cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Việc xét xử vắng mặt của người tham gia tố tụng, cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định. Căn cứ vào Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Nội dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không khách quan, các khoản nợ không rõ ràng và có nhiều khoản tiền lãi cộng thành tiền mượn ký nhận; tiền theo hợp đồng vay bà Nguyễn Lang T không có nhận nên không có biên nhận tiền vay này và không đồng ý có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Theo nội dung khởi kiện và các tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022 giữa bà Lê Kim P với ông Trương Kim B, bà Nguyễn Lang T có giao dịch vay mượn tiền, tổng số tiền bị đơn mượn của nguyên đơn là 12.250.000.000 đồng. Về phía bị đơn, tại phiên tòa sơ thẩm bà T cũng thừa nhận các giấy biên nhận mượn tiền do nguyên đơn cung cấp đều do bị đơn viết và ký tên.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với 03 biên nhận ngày 29-6-2022 (số tiền 500.000.000 đồng), biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 200.000.000 đồng) và biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 300.000.000 đồng) và rút yêu cầu tính lãi cấp sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu trả tiền nợ tại 03 biên nhận trên và phần yêu cầu trả tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.
Xét kháng cáo của các bị đơn:
Tại phiên tòa phúc thẩm cũng như trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, bị đơn đều thừa nhận có vay mượn tiền của nguyên đơn và mỗi lần vay đều có làm biên nhận do bị đơn trực tiếp viết và ký nhận; trong nội dung tất cả các biên nhận không thể hiện có tiền lãi nhập vốn và cũng không thể hiện lãi suất, đồng thời bị đơn cũng thừa nhận có đến Văn phòng C ký hợp đồng vay tài sản tổng số tiền là 5.600.000.000đ. Theo bị đơn cho rằng trong thời gian vay, phía bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn số tiền là 2.722.500.000đ và trả tiền cò là 235.000.000đ.
Hội đồng xét xử xét thấy, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào lời thừa nhận của bị đơn trong việc ký nhận nợ, ký nội dung hợp đồng vay ngày 28/9/2022 số tiền 5.600.000.000đ, căn cứ vào yêu cầu và việc không thừa nhận của nguyên đơn về vấn đề bị đơn đóng lãi suất, trả tiền cò cho rằng bị đơn nêu nhưng không có chứng cứ chứng minh cũng như cấp sơ thẩm không chấp nhận lời khai của 2 người làm chứng vì không khách quan và mâu thuẫn là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp.
Về nghĩa vụ và trách nhiệm liên đới trả nợ: Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà T đều thừa nhận vay tiền để kinh doanh bất động sản và sinh hoạt trong gia đình, việc vay tiền lúc đầu ông B có biết. Do đó việc buộc ông B có trách nhiệm liên đới cùng bà T trả nợ vay cho nguyên đơn bà P là đúng theo quy định tại Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Án phí dân sự: Do khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và kháng cáo của các bị đơn không được chấp nhận, nên các bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, trường hợp của các bị đơn Trương Kim B, Nguyễn Lang T xét về độ tuổi thì thuộc trường hợp là người cao tuổi nên được miễn nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Đều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Lang T và Trương Kim B. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 305/2023/DSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Căn cứ vào:
- - Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Kim P đối với bị đơn ông Trương Kim B, bà Nguyễn Lang T.
Buộc ông Trương Kim B và bà Nguyễn Lang T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Kim P số tiền 10.300.000.000 đồng (Mười tỷ ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền mượn theo biên nhận mượn ngày 29-6-2022 (số tiền 500.000.000 đồng), biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 200.000.000 đồng) và biên nhận không ghi ngày tháng năm mượn (số tiền 300.000.000 đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi.
- Về án phí dân sự:
Bị đơn Ông Trương Kim B, bà Nguyễn Lang T được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Nguyên đơn bà Lê Kim P được nhận lại 61.719.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000815 ngày 21-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Dũng |
Bản án số 192/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 192/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ Le Kim P - BĐ Nguyen Lang T, Truong Kim B
