Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 191/2025/HS-PT

Ngày 14 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
Ông Vũ Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 458/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Vũ Đan T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 26-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Vũ Đan T

, sinh ngày: 06/01/2000, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...]; nơi cư trú: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Trần Chí T1, sinh năm 1974 và bà Vũ Thị Thanh P, sinh năm 1974; bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 16/02/2024, tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, tổ công tác 161 Công an huyện Thống Nhất bắt quả tang Trần Vũ Đan T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: trong túi áo khoác bên trái màu đen T đang mặc có 01 vỏ bao bài tây hiệu DOUBLE K màu xanh, bên trong có 01 túi nylon màu trắng chứa tinh thể màu trắng và 01 khẩu trang y tế màu xanh, bên trong có 01 túi nylon màu trắng chứa 06 viên nén màu xanh không rõ hình dạng, 01 xe môtô biển số 60F2 – 948.52 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh. Trần Vũ Đan T khai nhận mua ma tuý sử dụng cùng nhóm bạn tại nhà Đinh Bá H. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Vũ Đan T, tạm giữ và niêm phong tang vật theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Bá H tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, phát hiện có 08 đối tượng gồm: Đinh Bá H, Trần Công D, Phạm Thành Đ, Phạm Hoàng T2, Bùi Quang M, Huỳnh Ngọc K, H ĐA LA KBUÔR và Nguyễn Ngọc D1. Tang vật thu giữ gồm: 01 túi nylon màu trắng chứa ma tuý, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng quấn tròn, 01 thẻ sim, 01 loa đèn màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen. Các đối tượng khai nhận đã cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Đinh Bá H, ma túy do Trần Vũ Đan T mang đến cho cả nhóm sử dụng. Phạm Thành Đ và Phạm Hoàng T2 đã gọi H ĐA LA KBUÔR đến cùng sử dụng với giá 2.000.000đồng. Qua test nhanh chất ma túy trong cơ thể, các đối tượng trên đều dương tính với chất ma túy (riêng Nguyễn Ngọc D1 âm tính). Công an huyện T đã tiến hành thu giữ các đồ vật liên quan và niêm phong ma tuý theo quy định của pháp luật.

Kết quả điều tra xác định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, Trần Vũ Đan T điều khiển xe môtô biển số 60F2 – 94852 đến nhà Mai Quốc V (tại ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai) nhậu với V. Đến 02 giờ 53 phút cùng ngày, T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Trần Công D rủ D sử dụng ma túy, D nói đang ở nhà Đinh Bá H cùng với 06 người nên T gọi điện cho D, D bật loa ngoài lên cho H và cả nhóm cùng nghe và nói T “cứ đưa đồ lên đi”. Lúc này, biết V có bán ma tuý nên T hỏi mua 1 hộp 5 ma túy khay và 08 viên thuốc lắc, V đồng ý và báo giá 1 hộp 5 ma túy dạng khay giá 6.000.000đồng và 08 viên thuốc lắc giá 2.400.000đồng (300.000đồng/01 viên), T chưa có tiền nên xin thiếu thì V đồng ý. Sau đó, V đưa cho T 01 túi nylon chứa ma túy khay và 01 túi nylon chứa 08 viên thuốc lắc không rõ hình dạng, T cầm lấy toàn bộ ma túy trên bỏ vào trong túi áo khoác màu đen bên trái đang mặc và điều khiển xe trên đến nhà H (tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) để cùng sử dụng ma túy. Tại nhà Đinh Bá H, sau khi nghe điện thoại của T, H nói cả nhóm có ma túy, ai ở lại thì sử dụng (ma túy do T mang đến, không thống nhất nhau việc góp tiền); Phạm Hoàng T2 đề xuất gọi H ĐA LA KBUÔR đến nhà H cùng sử dụng ma túy nên Phạm Thành Đ đã liên lạc gọi H ĐA LA KBUÔR đến với giá bay lắc là 2.000.000đồng; lúc này, H đã chuẩn bị sẵn 01 đĩa sứ màu trắng đựng và xào khay, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng quấn tròn làm dụng cụ hít khay, 01 thẻ sim để nghiền và kẻ đường khay.

Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Vũ Đan T mang ma tuý đến nhà Đinh Bá H thì H ĐA LA KBUÔR cũng đến, T lấy một ít ma túy khay mang theo trút ra đĩa sứ H chuẩn bị sẵn, đốt và nghiền khay, T bẻ 08 viên thuốc lắc thành 16 phần để trên dĩa để cả nhóm sử dụng. Cả nhóm cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà H đến khoảng 11 giờ thì hết thuốc lắc, lúc này T mang theo túi nylon chứa ma túy khay sử dụng còn lại ra về. T2 đã trả cho H ĐA LA KBUÔR số tiền 2.000.000 đồng tiền công đến bay lắc để H ĐA LA KBUÔR về. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T đến nhà gặp V hỏi mua thiếu thêm 07 viên thuốc lắc với giá 2.100.000 đồng, V đồng ý và đưa cho T 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 01 túi nylon chứa 07 viên thuốc lắc; T cất giấu trong túi áo và điều khiển xe trên đến nhà H để tiếp tục sử dụng ma túy. Tại nhà H, T đã lấy ra 01 viên thuốc lắc bẻ đôi và một ít khay để ra đĩa sứ cho mọi người cùng sử dụng và nói Đ gọi H ĐA LA KBUÔR đến để tiếp tục sử dụng ma túy; 06 viên còn lại và túi khay T vẫn cất giấu trong người.

Đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, Trần Vũ Đan T chia túi nilon chứa khay ra 01 túi nhỏ để lại cho mọi người tiếp tục sử dụng để ra về. T nhặt vỏ bao bài tây hiệu DOUBLE K có trong phòng để bỏ túi khay và cất vào túi áo khoác màu đen đang mặc cùng 01 túi nylon chứa 06 viên thuốc lắc để trong 01 khẩu trang y tế màu xanh và ra về. Khi T đến đầu đường T GIUSE thuộc ấp T, xã G, thì bị Công an huyện phát hiện, bắt giữ.

Căn cứ Kết luận giám định số 380/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, xác định:

  • Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M11), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,5544gam (bốn phẩy năm năm bốn gam); loại: Ketamine.
  • Mẫu 06 viên nén màu xanh không rõ hình dạng (Ký hiệu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 2,5345gam, loại: MDMA.
  • Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,2387gam, loại: Ketamine.

Vật chứng vụ án gồm:

  • Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong theo Kết luận giám định số 380/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 (một) vỏ bao bài tây hiệu DOUBLE K màu xanh và 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh là đồ vật Trần Vũ Đan T dùng để cất giấu ma tuý, không còn giá trị sử dụng chuyển Tòa đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • 05 (năm) điện thoại di động gồm: 01 hiệu Iphone 12 màu xanh của Trần Vũ Đan T; 01 hiệu Iphone 7 màu đen của Đinh Bá H; 01 hiệu Redmi 12C màu đen của Trần Công D; 01 hiệu Iphone 7S màu vàng của Phạm Thành Đ; 01 hiệu Iphone XS màu vàng của H ĐA LA KBUÔR; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000đồng quấn tròn, 01 (một) thẻ sim, 01 (một) loa đèn màu đen là dụng cụ của Đinh Bá H dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định các vật chứng trên có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, chuyển Tòa đề nghị tuyên tịch thu sung công.
  • 03 (ba) điện thoại di động gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone 7Plus màu xám của Phạm Hoàng T2, 01 điện thoại hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh của Huỳnh Ngọc K, hiệu Iphone 6 màu xám của Nguyễn Ngọc D1; quá trình điều tra xác định 03 điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo; 01 xe môtô biển số 60F2 - 948.52 là tài sản của ông Vũ Nguyễn V1 (sinh năm: 1991, trú tại: ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai); ngày 06/01/2024, Trần Vũ Đan T mượn xe trên của ông V1 để làm phương tiện đi lại, ông V1 không biết T sử dụng xe trên làm phương tiện hoạt động phạm tội; 01 xe môtô biển số 60B9 - 302.40, quá trình điều tra xác định xe môtô trên là tài sản của ông Võ Quốc M1 (Sinh năm: 1995, trú tại: ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai); ngày 15/01/2024, Đinh Bá H mượn xe trên của ông M1 để làm phương tiện đi lại, xe trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo; 01 xe môtô biển số 60T5 - 2580, quá trình điều tra xác định xe môtô trên là tài sản của ông Phạm Văn D2 (sinh năm: 1966, trú tại: ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai – Cha của Phạm Hoàng T2); ngày 15/02/2024, T2 mượn xe trên của ông D2 để đi chơi, ông D2 không biết T2 sử dụng xe trên đến nhà Đinh Bá H sử dụng trái phép chất ma tuý, đối với các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chủ sở hữu.

Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Vũ Đan T, Đinh Bá H, Trần Công D, Phạm Thành Đ, Phạm Hoàng T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 26-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã quyết định:

Căn cứ b, c khoản 2 Điều 255; Điểm c, g, i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

- Tuyên bố bị cáo Trần Vũ Đan T phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Vũ Đan T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.

Căn cứ b, c, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

- Tuyên bố bị cáo Đinh Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đinh Bá H 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2024.

Căn cứ b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

- Tuyên bố bị cáo Trần Công D, Phạm Thành Đ, Phạm Hoàng T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Công D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.

Xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2024.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo Trần Vũ Đan T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

- Về kháng cáo và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bố mẹ bị cáo ly hôn từ khi bị cáo 01 tuổi; bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi bố không có khả năng lao động và ông bà nội già yếu là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo.

[4] Về kháng cáo và hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo không phải là người chủ mưu, khởi sướng mà phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức; tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Vũ Đan T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 26-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất về hình phạt do có tình tiết mới.

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c, g, i khoản 1 Điều 249; b, c, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55, 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tuyên bố bị cáo Trần Vũ Đan T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Vũ Đan T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16-02-2024.

2. Biện pháp ngăn chặn:

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Vũ Đan T theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án phạt tù.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Vũ Đan T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo khác; án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Quang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 191/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger