|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số:191/2024/DS-PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà.
Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyên Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 185/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị B, sinh năm 1974; cư trú tại: Khu phố C, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. có mặt
- Bị đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1966; cư trú tại: Khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Đ: Chị Phan Thị Thảo L, sinh năm 1989; cư trú tại: Khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị V, sinh năm 1961; có mặt
- Ông Phan Duy T, sinh năm 1964; có mặt
- Ông Phan Duy L1, sinh năm 1972 có mặt
- Bà Phan Thị T1, sinh năm 1976; cư trú tại: Khu phố C, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. có mặt
- Chị Phan Thị Thảo L, sinh năm 1989. có mặt
- Anh Phan Duy V1, sinh năm 1992; có mặt
- Chị Phan Thị Thảo L2, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường B; Địa chỉ: Số E T, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Cùng cư trú tại: Khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Cùng cư trú tại: Khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2 - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường B. (có đơn xin vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị B là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị B trình bày:
Thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26, diện tích thực tế 456m² (trong đó 200m² đất ở và 256m² đất vườn) tại khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định có nguồn gốc nhà nước cân đối giao quyền cho hộ ông Phan T3. Tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất hộ ông Phan T3 gồm có 07 nhân khẩu: Ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M, Phan Duy L1, Phan Thị B, Phan Thị T1, Phan Duy T và Phan Thị V. Tháng 11/2005 cha mẹ bà (cụ T3, cụ M) vì khó khăn về kinh tế nên đã chuyển nhượng một phần thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26 với diện tích 143m² đất vườn; còn lại 200m² đất ở và 113m² đất vườn vẫn còn là tài sản chung của hộ gia đình ông Phan T3.
Ngày 28/11/2007 cha mẹ bà đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ diện tích đất còn lại có diện tích 313m² (trong đó 200m² đất ở và 113m² đất vườn) cho vợ chồng ông Phan Duy T4 bà Lê Thị Đ. Đến tháng 8/2020 bà mới phát hiện việc cha mẹ bà đã tự ý tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa đất nói trên cho ông T4 bà Đ mà không có sự đồng ý của bà và các thành viên trong hộ tại thời điểm nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất. Như vậy việc tặng cho quyền sử dụng đất nói trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hộ, do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ được chứng thực tại UBND phường B ngày 28/11/2007 là vô hiệu.
- + Buộc bà Lê Thị Đ và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Duy T4 phải trả lại thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26, diện tích 394,4m² (trong đó 200m² đất ở và 194,4m² đất vườn) cho hộ gia đình ông Phan T3.
- Tại Bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị Đ trình bày:
Bà thống nhất thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26, diện tích thực tế 456m² (trong đó 200m² đất ở và 256m² đất vườn) tại khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định có nguồn gốc nhà nước cân đối giao quyền cho hộ ông Phan T3. Khi cha mẹ chồng bà (cụ Phan T3 và Nguyễn Thị M) còn sống có viết di chúc để lại toàn bộ quyền sử dụng thửa đất nói trên cho vợ chồng bà sử dụng, tại thời điểm viết di chúc có ông Phan Duy L1, ông Phan Xuân A, ông Phan Duy T, ông Nguyễn C, cụ Phan Thị M1 cùng ký tên xác nhận. Sau đó cha mẹ chồng bà và vợ chồng bà đã cùng nhau lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa đất nói trên đã được Ủy ban nhân dân phường B ký chứng thực số 391, quyển số: 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 28 tháng 11 năm 2007. Thửa đất này đã được vợ chồng bà tiến hành đo đạc và được Nhà nước cấp đổi lại giấy chứng nhận cho vợ chồng bà (Lê Thị Đ và Phan Duy T4) là thửa đất số 151, tờ bản đồ số 60, diện tích 394,4m² (trong đó 200m² đất ở và 194,4m² đất trồng cây lâu năm) nên hiện tại thửa đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà.
Nay bà B yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng bà được chứng thực tại UBND phường B ngày 28/11/2007 là vô hiệu và buộc bà cùng với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Duy T4 phải trả lại thửa đất số 151, tờ bản đồ số 60, diện tích 394,4m² (trong đó 200m² đất ở và 194,4m² đất vườn) (bản đồ VN-2000) cho hộ gia đình ông Phan T3, bà không đồng ý vì tại thời điểm ký giấy di chúc ông Phan Duy L1, ông Phan Xuân A, ông Phan Duy T, ông Nguyễn C, cụ Phan Thị M1 đều cùng ký tên xác nhận nên việc cụ M1, cụ T3 ký tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định của pháp luật.
Bà không đồng ý trả lại quyền sử dụng thửa đất số 151, tờ bản đồ số 60 (bản đồ VN-2000) bởi vì thửa đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà Phan Thị V, ông Phan Duy T, ông Phan Duy L1, bà Phan Thị T1 trình bày: Tất cả đều thống nhất theo yêu cầu của bà Phan Thị B, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ được chứng thực tại UBND phường B ngày 28/11/2007 là vô hiệu.
- + Buộc bà Lê Thị Đ và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Duy T4 phải trả lại thửa đất số 151, tờ bản đồ số 60, diện tích 394,4m² (trong đó 200m² đất ở và 194,4m² đất vườn) (bản đồ VN-2000) cho hộ gia đình ông Phan T3.
+ Chị Phan Thị Thảo L, chị Phan Thị Thảo L2 và anh Phan Duy V1 trình bày: Tất cả đều thống nhất theo trình bày và yêu cầu của bà Lê Thị Đ. Vì việc tặng cho là hoàn toàn hợp pháp và đúng quy định của pháp luật nên không đồng ý vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân phường B ký chứng thực số 391, quyển số: 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 28 tháng 11 năm 2007.
+ Đại diện theo pháp luật của UBND phường B ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Ông Phan Duy T4 là người yêu cầu chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ. Số chứng thực 391, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 28/11/2007. Bà Phan Thị B yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu UBND phường B không có ý kiến; đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bích .
Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26 (nay là thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60 VN-2000), diện tích 313m² (trong đó 200m² đất ở và 113m² đất vườn); theo đo đạc thực tế 442,6m² (trong đó 200m² đất ở, 242,6m² đất vườn) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích xây dựng 70m² (theo đo đạc thức tế là 76m²) tại khối P, thị trấn B, huyện H (nay là khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định) giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ được UBND thị trấn B (nay là phường B) chứng thực vào ngày 28/11/2007 vô hiệu một phần (vô hiệu đối với phần tặng cho diện tích 242,6m² đất vườn).
Buộc bà Lê Thị Đ, chị Phan Thị Thảo L2, chịPhan Thị Thảo Linh, anh Phan Duy V1 phải trả lại phần diện tích 242,6m² đất vườn cho hộ gia đình ông Phan T3. Các đương sự được quyền liên hệ tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình liên quan đến diện tích 242,6m² đất vườn thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60 tại khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự, chi phí tố tụng khác, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/6/2024, bà Phan Thị B kháng cáo toàn bộ quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và yêu cầu Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- - Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại cấp phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng;
- - Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị B về toàn bộ quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và yêu cầu Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Phan Thị Thảo L2 và ông Nguyễn Văn T2 – Chủ tịch UBND phường B có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Thị Bích H phúc thẩm thấy rằng:
Theo văn bản số 2260/UBND-TNMT ngày 27/6/2023 của UBND thị xã H xác định: Theo bản đồ VN-2000, thửa đất 459A (bản đồ năm 1997) được đạt thành thửa đất số 175, tờ bản đồ 60, diện tích 1.160m2, phường B. Tuy nhiên ngày 06/5/2008, ông Phan Duy T4 và bà Lê Thị Đ có đơn xin cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26 (bản đồ 1997) sang bản đồ địa chính chính quy (bản đồ VN-2000). Ngày 18/8/2008, UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số vào sổ cấp GCN: H4735) tại thửa đất số 151, tờ bản đồ 60 (bản đồ VN-2000) cho ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ là sai vị trí thửa đất. Vị trí đúng là thửa đất 175, tờ bản đồ 60 là thửa đất đang tranh chấp.
Hộ gia đình ông Phan T3 được cân đối giao quyền sử dụng đất thửa đất số 459A, tờ bản đồ 26, diện tích 456m2 (bản đồ 1997), đến tháng 11/2005 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Tường K một phần thửa đất diện tích 143m2, diện tích còn lại là 313m2. Ngày 22/01/2008, UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ tại thửa đất số 459A tờ bản đồ 26, diện tích 456m2 (bản đồ 1997) diện tích 313m2, có số vào sổ số H (cấp mới theo hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất số:1990/HĐTC/2007). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 459A tờ bản đồ 26, diện tích 456m2 (bản đồ 1997) của ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ so với sơ đồ hiện trạng của thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đất đai thị xã H lập ngày 02/11/2022, diện tích chênh lệch tăng (422,6m2 – 313m2) 129,6m2 là do sai số đo đạc.
Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26, được đo đạc, chỉnh lý thành thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60, diện tích theo đo đạc thực tế 442,6m2 (trong đó 200m2 đất ở, 242,6m2 đất vườn) thuộc khu phố P, phường B do UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01584 QSDĐ/A15 cho hộ ông Phan T3. Theo tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và theo Biên bản xác minh của Tòa án tại UBND thị xã H xác định: Theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ ban hành kèm theo Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất, hộ ông Phan T3 có 07 nhân khẩu gồm: Ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M, ông Phan Duy T, ông Phan Duy L1, bà Phan Thị B, bà Phan Thị V, bà Phan Thị T1. Tuy nhiên, năm 2007 ông T3, bà M lập hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60, diện tích theo đo đạc thực tế 442,6m² (trong đó 200m² đất ở, 242,6m² đất vườn) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích xây dựng 70m², tại Khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định được UBND phường B chứng thực vào ngày 28/11/2007 cho vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ mà không có sự đồng ý của ông Phan Duy T, ông Phan Duy L1, bà Phan Thị B, bà Phan Thị V, bà Phan Thị T1 là chưa đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp, Bộ T6 về hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất, vi phạm vào khoản 2 Điều 9 Luật đất đai năm 2003 làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T, ông L1, bà B, bà V, bà T1. Do đó, yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có căn cứ.
Tuy nhiên, đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60, diện tích theo đo đạc thực tế 442,6m² (trong đó 200m² đất ở và 242,6m² đất vườn) và tài sản gắn liền với đất cũng có phần quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở của ông T3 và bà M. Ông T3 và bà M đã tự nguyện tặng cho phần quyền sử dụng đất của mình cho vợ chồng ông T4, bà Đ. Hơn nữa, theo Nghị định 64/CP thì việc cân đối giao quyền sử dụng đất chỉ cân đối giao đất nông nhiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị B, tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60, diện tích theo đo đạc thực tế 442,6m² (trong đó 200m² đất ở, 242,6m² đất vườn) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích xây dựng 70m² giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ được UBND thị trấn B (nay là phường B) chứng thực vào ngày 28/11/2007 vô hiệu một phần là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Nên buộc bà Lê Thị Đ, chị Phan Thị Thảo L2, chịPhan Thị Thảo Linh, anh Phan Duy V1 phải trả lại phần diện tích 242,6m² đất vườn cho hộ gia đình ông Phan T3. Các bên đương sự có quyền tự thỏa thuận về việc chia tài sản là quyền sử dụng 242,6m² đất vườn nói trên, trường hợp các bên đương sự không tự thỏa thuận được có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác về việc chia tài sản chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phan Thị B không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị B, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp.
Các phần còn lại của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên được giữ nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí Dân sự phúc thẩm: theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Phan Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006558 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, Điều 148, Điều 165, Điều 166, khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 207, Điều 208, Điều 212 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 9 của Luật đất đai năm 2003; Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích .
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bích .
Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 459A, tờ bản đồ số 26 (nay là thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60 VN-2000), diện tích 313m² (trong đó 200m² đất ở và 113m² đất vườn); theo đo đạc thực tế 442,6m² (trong đó 200m² đất ở, 242,6m² đất vườn) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích xây dựng 70m² (theo đo đạc thức tế là 76m²) tại khối P, thị trấn B, huyện H (nay là khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định) giữa ông Phan T3, bà Nguyễn Thị M với vợ chồng ông Phan Duy T4, bà Lê Thị Đ được UBND thị trấn B (nay là phường B) chứng thực vào ngày 28/11/2007 vô hiệu một phần (vô hiệu đối với phần tặng cho diện tích 242,6m² đất vườn).
Buộc bà Lê Thị Đ, chị Phan Thị Thảo L2, chị Phan Thị Thảo L, anh Phan Duy V1 phải trả lại phần diện tích 242,6m² đất vườn cho hộ gia đình ông Phan T3. Các đương sự được quyền liên hệ tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình liên quan đến diện tích 242,6m² đất vườn thuộc thửa đất số 175, tờ bản đồ số 60 tại khu phố P, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
3.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị B phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002019 ngày 26/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, còn lại hoàn trả bà Phan Thị B 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Lê Thị Đ phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2 Về chi phí định giá tài sản:
Chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Bà Phan Thị B phải chịu là 1.000.000 đồng (một triệu đồng); bà Lê Thị Đ phải chịu là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Nhưng bà B đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), nên bà Đ phải trả lại cho bà B 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
3. Về dân sự phúc thẩm:
Bà Phan Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006558 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Các phần còn lại của bản án Dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên được giữ nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Quyền và nghĩa vụ thi hành án:
4.1 Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
(đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuấn |
Bản án số 191/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 191/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
