|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2024/HSST Ngày: 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
Bà Phan Thị Sơn
-Thư ký phiên toà: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà : Ông Đặng Quang Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường Trung tâm V phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 190/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Trương Thị Bích N
Trương Thị Bích N (tên gọi khác: không); Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1990 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Họ tên cha: Trương Văn H, sinh năm: 1969; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1969; Gia đình bị cáo có 03 người con. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Chồng là Nguyễn Trọng K, sinh năm: 1990 (hiện không còn chung sống với nhau) và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh ngày 16/12/2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/6/2024 đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm: 2002; Địa chỉ: tổ E, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (vắng mặt)
Người làm chứng: ông Lê D, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thị Bích N là người nghiện ma túy từ cuối năm 2018 đến nay, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng N nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ ra vừa sử dụng, vừa bán lại cho những người nghiện khác kiếm lời. Khoảng 18 giờ, ngày 06/6/2024, N gọi điện cho một người đàn ông tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, P đồng ý. Sau đó, P hẹn N gặp nhau tại khu vực ngã ba M thuộc phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giao dịch, khoảng 30 phút sau N đến địa điểm trên để gặp P. Tại đây, N đưa cho P số tiền 1.000.000 đồng, P đưa cho N 01 gói ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, N mang về phòng trọ tại tổ B, khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lấy ra một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại N phân chia thành 04 gói ma tuý màu vàng loại nhỏ hàn kín và 01 gói ma tuý màu trắng loại lớn hàn kín. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm: 2002, Nơi thường trú: tổ E, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến phòng trọ của N hỏi mua ma tuý để sử dụng, N đồng ý và bán cho H1 01 gói ma tuý giá 200.000 đồng. Số ma tuý còn lại N cất giấu vào trong lọ kem dưỡng da màu tím để dưới kẹt giường nằm trong phòng ngủ của N.
Đến khoảng 10 giờ ngày 07/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P phối hợp với Công an phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của N phát hiện N đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ bao gồm: 01 gói ma tuý màu trắng, 03 gói ma tuý màu vàng trong lọ kem dưỡng da màu tím để dưới kẹt giường nằm trong phòng ngủ; 01 Điện thoại di động có dòng chữ Samsung màu xanh đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly; 01 cây kéo; 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (BL: 05 – 06; 21 - 36).
Tại Bản kết luận giám định số: 355/KL-KTHS-MT ngày 13/6/2024 của Phòng K1 – Công an tỉnh B-VT kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A1) có khối lượng 0,8878 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; 03 (ba) gói nylon màu vàng hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A2) có khối lượng 0,3130 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BL: 20);
Tại bản cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 15-10-2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố bị cáo Trương Thị Bích N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Bích N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và không có ý kiến gì về bản cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 15-10-2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Trương Thị Bích N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Bích N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 phong bì niêm phong đề số: 355 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B là ma túy đã được sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 cân tiểu ly; 01 cây kéo; 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 Điện thoại di động có dòng chữ Samsung màu xanh đen đã qua sử dụng do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội và bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên có đủ cơ sở xác định được hành vi của bị cáo như sau: Khoảng 19 giờ ngày 06/6/2024 tại tổ B, khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trương Thị Bích N đã có hành vi bán 01 gói ma tuý đá giá 200.000 đồng cho Nguyễn Thị Hồng H1. Đến khoảng 10 giờ ngày 07/6/2024, N bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ 04 gói ma túy, trọng lượng 1.2008 gam, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời.
Hành vi của bị cáo Trương Thị Bích N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đối với Trương Thị Bích N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma tuý; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, khi xem xét mức hình phạt cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: không.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong đề số 355 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, mẫu vật bên trong đã được sử dụng hết trong quá trình phục vụ công tác giám định; 01 cân tiểu ly; 01 cây kéo; 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Điện thoại di động có dòng chữ Samsung màu xanh đen đã qua sử dụng (thu giữ của bị cáo N) do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước
[6]. Đối với đối tượng tên P bán ma túy cho bị cáo N do chưa rõ lai lịch, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra N khai nhận trước đó đã mua 01 gói ma tuý của P (N không nhớ ngày cụ thể) do số ma túy trên N đã sử dụng hết nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không thu giữ được để tiến hành giám định xác định xác định trọng lượng và loại ma tuý mà bị can đã tàng trữ. Do đó không đủ căn cứ để xử lý bị cáo về lần phạm tội này.
Đối với Nguyễn Thị Hồng H1 có hành vi mua 200.000 đồng tiền ma tuý của N để sử dụng. Hiện nay số ma tuý trên H1 đã sử dụng hết nên không có căn cứ để xử lý H1 về hành vi này. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 17/QĐ ngày 10/6/2024 đối với H1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định pháp luật.
[7]. Án phí HSST: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị Bích N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Trương Thị Bích N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong đề số 355 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 cân tiểu ly; 01 cây kéo; 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 Điện thoại di động có dòng chữ Samsung màu xanh đen đã qua sử dụng;
(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 04/BB.CCTHADS ngày 22/10/2024.)
Án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuỳ Trang |
Nơi nhận:
|
|
Hội thẩm nhân dân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán Chủ toạ phiên toà |
Hội thẩm nhân dân |
Bản án số 191/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 191/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Truong Thi Bich N
