Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HS-ST

Ngày         : 30/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Xuân Thảo
  • 2/ Bà Phạm Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Chung Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 213/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

1/ Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG T, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giới tính: Nam; ĐKHKTT: A (số cũ 1 L), Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 1 T (số cũ 1 L), Phường 1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Q, vợ, con: không;

Tiền án:

  • - Ngày 15/01/2013 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên xử 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 13/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 28/9/2016. Đã thi hành xong nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Ngày 04/9/2018 bị Tòa án nhân dân quân Tân Bình tuyên xử 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 73/2018/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 06/10/2022. Đã thi hành xong nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Ngày 13/11/2003 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 2056/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 25/12/2006. Về nghĩa vụ dân sự: Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình chưa thụ lý Bản án số 2056/HSST ngày 13/11/2003 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Ngày 15/6/2017 bị Công an P, quận T xử phạt vi phạm hành chính mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Đã thực hiện đóng phạt xong.

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 15/5/2002 bị Ủy ban nhân dân Phường I, quận T ra quyết định giáo dục tại địa phương 03 tháng theo Nghị định 19/CP.
  • - Ngày 05/11/2002 bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra quyết định số 1385/QĐ-UB về việc đưa vào cơ sở giáo dục H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận với thời gian 24 tháng vì đã có hành vi sử dụng ma túy, cướp giật tài sản.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG HUY N, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giới tính: Nam; ĐKHKTT: 377/96 Cách mạng T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 377/96 Cách mạng T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà: Nguyễn Lệ T1, vợ, con: không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 05/4/2024, Nguyễn Hoàng Huy N điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 49E1-113.68 lưu thông đến trước nhà số B L, Phường I, quận T thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận T kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ tại túi quần trước bên trái của N đang mặc 01 gói nilon chứa tinh thể không màu, qua giám định tại Phòng K Công an Thành phố H là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,355 gram, loại Methamphetamine. N khai nhận mua số ma túy trên từ Nguyễn Hoàng T ngụ tại Phường I, quận T vào ngày 05/4/2024 với mục đích sử dụng.

Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 05/4/2024, tại gian nhà bên trái số A T, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an P1, quận T phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hoàng T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ hộp gỗ ở sàn tầng gác lửng có 01 gói nilon chứa tinh thể không màu, qua giám định tại Phòng K Công an Thành phố H là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,4292 gram, loại Methamphetamine. T khai nhận số ma túy bị thu giữ để sử dụng cá nhân.

Tiến hành khám xét khẩn cẩn nhà của T tại số A T, Phường I, quận T, phát hiện và thu giữ 01 gói nilon chứa tinh thể không màu có khối lượng 12,7228 gram và 01 gói nilon chứa nhiều viên nén màu đỏ có khối lượng 2,3568 gram, 01 bình hút có gắn nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và 01 hộp quẹt, 01 điện thoại di động hiệu S2. Qua giám định tại Phòng K Công an Thành phố H không tìm thấy thành phần ma túy.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nhà của Nguyễn Hoàng Huy N tại địa chỉ 3 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả thu giữ: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống súc nhựa. N khai nhận đây là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.

Vật chứng là ma túy bị thu giữ đã được giám định thể hiện tại Bản kết luận giám định số 4446/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Huy N khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2017 sau đó cai nghiện đến đầu năm 2024 thì sử dụng lại. Nguồn ma túy N mua từ những người không rõ tên, địa chỉ tại khu V, Quận C. Sau khi quen T, N đã mua của T được 02 lần để sử dụng. Cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 26/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N gọi điện thoại cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. T đồng ý nên hẹn N đến trước hẻm A T, Phường I, quận T để giao ma túy. Khoảng 15 phút sau, T đến và đưa cho N 01 gói nilon chứa ma túy đá, N trả cho T 200.000 đồng. N mang về nhà sử dụng hết. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, do cần mua ma túy để sử dụng nên N gọi điện thoại cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Do trước đó T còn nợ N 150.000 đồng nên N nói T đưa ma túy cho N để trừ nợ thì T nói đã hết tiền và cũng không có ma túy, T nói N chạy xe máy qua nhà T để T đổi loa lấy ma túy rồi T sẽ trả ma túy cho N, N đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, N đến nhà T và chở T mang theo 01 loa di động bằng xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 49E1-113.68 đến đường C, quận B (không nhớ rõ địa chỉ). T nói N vào quán cà phê ngồi đợi, còn T được 01 người đàn ông đi xe SH Mode màu đỏ (không rõ biển số xe) chở T và loa đi đâu không rõ. N không biết lai lịch người đàn ông này, cũng không nhìn rõ mặt vì người này đội mũ bảo hiểm và đeo khẩu trang, N chỉ nghe T gọi là anh T2. Khoảng 30 phút sau thì T được người đàn ông tên T2 chở quay lại. T nói với N đổi được ma túy rồi và nói N chở về nhà, Sau khi T về nhà tại địa chỉ 1 T, Phường I, quận T N đi cất xe rồi quay lại lên gác lửng nhà T. Tại đây, T lấy ra 01 gói ma túy đá rồi dùng 01 cái ống hút nhựa múc một ít ma túy từ gói ma túy này cho vào 01 gói nilon đưa cho N. Giá trị của gói ma túy này khoảng 200.000 đồng. N cất gói ma túy đá vào túi quần trước bên trái của N đang mặc sau đó lấy xe gắn máy về nhà. N đang trên đường về nhà thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận T kiểm tra bắt qua tang như đã nêu trên.

Sau khi bị bắt, Nguyễn Hoàng T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 05/4/2024, T liên lạc với 01 người đàn ông tên T2 qua số điện thoại 0903.613.xxx để mua ma túy bằng hình thức trao đổi loa kéo di động của T lấy ma túy của T2. T thỏa thuận bán cho T2 loa di động với giá 800.000 đồng. T gửi hình ảnh loa qua Zalo “A Tuan Q5” để T2 xem trước. T2 đồng ý mua và thỏa thuận thanh toán lại cho T bằng 01 gói ma túy đá trị giá 800.000 đồng. T đồng ý nên gọi Nguyễn Hoàng Huy N chở T bằng xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 49E1-113.68 của N đến đường C, quận B (không nhớ rõ địa chỉ) để gặp T2 và T đổi loa cho T2 để lấy ma túy đá. Sau khi đổi xong, N chở T về nhà tại địa chỉ 1 T, Phường I, quận T, T lấy một phần ma túy trong gói ma túy vừa đổi được cho N để trả công chở T đi mua ma túy. Sau khi N về, T lấy một ít ma túy ra sử dụng. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thị bị công an phường kiểm tra hành chính bắt quả tang T cùng vật chứng là 0,4292 gram, loại Methamphetamine. T thừa nhận gói ma túy của Nghĩa là gói ma túy T vừa đưa N để trả công chở T đi mua ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra đến ngày 24/4/2024, T không thừa nhận hành vi đưa gói ma túy cho N để trả công N chở T đi đổi loa lấy ma túy mà chỉ vì thấy N quá tốt với T nên đưa ma túy cho N xem như cảm ơn Nghĩa. Ngoài ra, T không bán ma túy cho N lần nào khác.

Đối với tài khoản Z “A Tuấn Q5” bán ma túy cho Nguyễn Hoàng T: Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi Công văn xác minh số điện thoại nhưng không có kết quả, không xác định được lai lịch, không triệu tập làm việc được, nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Xét nghiệm ma túy, Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Hoàng Huy N dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 211/CT-VKS.TB ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 08 năm đến 09 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt từ 14 năm đến 16 năm tù; bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung. Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

  • - Bị cáo T chỉ thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không thừa nhận hành vi đưa gói ma túy cho N để trả công N chở T đi đổi loa lấy ma túy mà chỉ vì thấy N quá tốt với T nên đưa ma túy cho N xem như cảm ơn Nghĩa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
  • - Bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ban đầu, bị cáo T thừa nhận gói ma túy của Nghĩa là gói ma túy T vừa đưa N để trả công chở T đi mua ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra đến ngày 24/4/2024 và tại phiên tòa hôm nay, T không thừa nhận hành vi đưa gói ma túy cho N để trả công N chở T đi đổi loa lấy ma túy mà chỉ vì thấy N quá tốt với T nên đưa ma túy cho N xem như cảm ơn. Xét thấy, mặc dù bị cáo T không thừa nhận hành vi trả công cho N bằng ma túy và liên tục thay đổi lời khai, nhưng lời khai nhận tội ban đầu của bị cáo T vào ngày 05/4/2024 phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo N, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi tàng trữ trái phép 0,4292 gram ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và hành vi trả công bằng 0,355 gram ma túy Methamphetamine cho bị cáo N, N trên đường mang ma túy về sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Hoàng T đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249, điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

  1. [3] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  2. [4] Về vật chứng vụ án:
  • - 01 gói niêm phong có số 1335/24 (2) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng T, hình dâu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D, 01 gói niêm phong có số 1335/24 (1) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng Huy N và Nguyễn Hoàng T, hình dấu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D là tang vật ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy
  • - 01 gói niêm phong có số 1335/24 (3) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng T, hình dấu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D là mẫu vật còn lại sau giám định, là vật không có giá trị, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe máy hiệu Yamaha Luvias biển kiểm soát 49E1-113.68, số máy 44S1-011072, số khung: RLCL44S10AY011093. Kết quả xác minh biển số 49E1-113.68 do Nguyễn Ngọc T3 đứng tên đăng ký sở hữu cho chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter. Làm việc với anh Nguyễn Ngọc T3, anh T3 khai nhận đã bán chiếc xe trên nhưng không rõ người mua. Anh T3 không biết cũng như không liên quan đến Nguyễn Hoàng Huy N. Xác minh số máy 44S1-011072, số khung: RLCL44S10AY011093 là của xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias, biển số 59Y2-717.57 do anh Lê Hùng S đứng tên sở hữu. Qua làm việc, anh S cho biết đã bán chiếc xe trên cho người khác (không rõ lai lịch) trên mạng với giá 14.000.000 đồng vào năm 2014. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo truy tìm chủ sỡ hữu nhưng chưa có người liên hệ giải quyết. Do không xác định được người quản lý hợp pháp nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng một thời gian, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo T dùng để liên lạc mua ma túy, là phương tiện phạm tội và là vật có giá trị nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 bình nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp quẹt, 01 ống súc nhựa (bên trong đều không chứa gì), 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh, ống hút nhựa (bên trong không chứa gì) và 01 hộp quẹt là dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo T và N, là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  1. [5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm q khoản 2 Điều 251, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T;

Căn cứ khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N;

Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng T 06 (S1) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng T 08 (T4) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

Tổng hợp hình phạt: 14 (Mười bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.

  1. [2] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Huy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng Huy N 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.

  1. [3] Về xử lý tang vật của vụ án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong có số 1335/24 (2) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng T, hình dấu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D, 01 gói niêm phong có số 1335/24 (1) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng Huy N và Nguyễn Hoàng T, hình dấu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D, 01 gói niêm phong có số 1335/24 (3) có chữ ký, dấu vân tay của Nguyễn Hoàng T, hình dấu Công an P1, quận T và chữ ký của giám định viên Bùi Công D; 01 bình nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp quẹt, 01 ống súc nhựa (bên trong đều không chứa gì), 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh, ống hút nhựa (bên trong không chứa gì) và 01 hộp quẹt.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu xanh.

- Giao 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias biển số 49E1-113.68, số máy 44S1-011072, số khung: RLCL44S10AY011093 cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau một năm, nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 14/BB/2024 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

  1. [4] Mỗi bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Hoàng Huy N1 phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. [5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 191/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger