Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 919/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh

Các hội thẩm nhân dân:1. Bà Phạm Thị Nhung

2. Ông Nguyễn Đình Thức

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 541/2022/DSST ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1063/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1365/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm: 1952 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: 624 tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Tạm trú: Nhà số I, hẻm S, đường B, ấp V, xã P, huyện C, tỉnh Long An

- Bị đơn: Công ty cổ phần Đ

Trụ sở: 278 Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn K – Tổng giám đốc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/07/2022 của ông Nguyễn Hồng C và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông C trình bày:

Ngày 15/4/2021, ông và Công ty cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Phiếu đặt cọc với nội dung: Công ty bán cho ông phần đất diện tích 72m2 thuộc Lô E, ô 05, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An (sau đây gọi tắt là hợp đồng đặt cọc); giá trị lô đất là 1.450.000.000 đồng. Ông đã đặt cọc cho công ty số tiền 50.000.000 đồng(Phiếu thu ngày 15/4/2021).

Khi hợp đồng đặt cọc giữa các bên đã được ký kết, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông tìm hiểu và phát hiện ra Công ty đã có những biểu hiện, việc làm và hành vi gian dối. Khi bán đất cho ông, phần đất bán cho ông Công ty giữ lại để xây dựng khuôn mẫu nhưng Công ty vẫn ký hợp đồng đặt cọc với ông rồi sau đó tìm cách đẩy ông sang những lô đất khác để thay thế nhưng ông không đồng ý. Công ty dùng chiêu trò bảo lưu, còn nếu ông không chịu thì mất cọc. Sau khi đặt cọc hẹn ngày ra công chứng Công ty cũng không thực hiện.

Ông đã nhiều lần liên lạc để yêu cầu Công ty phải giải quyết trả lại số tiền 50.000.000 đồng cho ông nhưng Công ty vẫn không giải quyết.

Như vậy qua những sự việc trên ông nhận thấy:

  • Công ty biết là lô E2, ô 05 không bán được nhưng vẫn giới thiệu cho khách hàng mà vẫn để khách hàng đặt cọc và không ký hợp đồng công chứng lô E2, ô 05. Công ty còn cố tình kéo dài thời gian không chịu trả tiền cọc cho ông, hứa hẹn nhiều lần mà không trả.

Nay ông C làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Tân Phú giải quyết:

  • Yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ký ngày 15/4/2021 giữa ông và Công ty cổ phần Đ;
  • Yêu cầu Công ty cổ phần Đ phải trả lại đầy đủ cho ông số tiền đã nhận là 50.000.000 đồng, trả ngay một lần khi Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ông không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Bị đơn – Công ty cổ phần Đ do ông Đỗ Văn K là người đại diện theo pháp luật đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được.

Do Tòa án nhân dân quận Tân Phú không tiến hành hòa giải được nên đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Nguyên đơn – ông Nguyễn Hồng C có đơn đề nghị xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn – Công ty cổ phần Đ vắng mặt không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc. Do bị đơn là Công ty cổ phần Đ có trụ sở tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Tại phiên tòa, nguyên đơn - ông Nguyễn Hồng C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn - Công ty cổ phần Đ đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập nhưng Công ty vắng mặt không lý do và không cử đại diện để tham gia tố tụng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần Đ trả số tiền cọc 50.000.000 đồng,Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Phiếu đặt cọc ngày 15/4/2021 xác định giữa Công ty cổ phần địa ốc H và ông Nguyễn Hồng C đã giao kết hợp đồng đặt cọc để tiến hành chuyển nhượng Lô E2, ô 05, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.Thực hiện cam kết hai bên thỏa thuận, ông C đã nộp cho Công ty số tiền cọc 50.000.000 đồng theo phiếu thu ngày 15/4/2021. Như vậy, ông C đã thực hiện nghĩa vụ như hai bên đã cam kết tại Phiếu đặt cọc ngày 15/4/2021. Tuy nhiên, Công ty không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận nênông C làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân quận Tân Phú yêu cầu Công ty cổ phần địa ốc Harvest Real trả số tiền cọc 50.000.000 đồng là có căn cứ.

Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét thấy, do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 50.000.000 đồng làmmột lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.

Xét ông C không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có cơ sở nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty cổ phần Đ1 chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả là 2.500.000 đồng.

Ông C thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 328, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Hồng C
  2. Buộc Công ty cổ phần Đ2 trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hồng C số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng.

    Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

    Trong trường hợp Công ty cổ phần Đ3 thực hiện nghĩa vụ, ông Nguyễn Hồng C có quyền nộp đơn lên cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để yêu cầu thi hành. Kể từ thời điểm ông C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty cổ phần Đ không thực hiện thì hàng tháng Công ty cổ phần Đ4 phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.

    Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Hủy phiếu đặt cọc ký ngày 15/4/2021 giữa Công ty cổ phần Đ5.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:Công ty cổ phần Đ6 phải chịu án phí 2.500.000 đồng.
  5. Ông Nguyễn Hồng C thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí.

    Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  6. Quyền kháng cáo:
  7. Đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Phú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Huyền Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 919/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 919/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger